|
Trở lại
VAGAM
Cách đây nhiều năm, tại một
vương quốc nhỏ ở phía Bắc Ấn Độ,
có một sự kiện xảy ra làm thay đổi toàn thể
thế giới, Hoàng hậu Ma Da (Maya), vợ của vua Tịnh
Phạn (Suddhodana), trong lúc ngủ đă có một giấc
mơ tuyệt diệu. Bà mơ thấy một luồng
ánh sáng trắng từ bầu trời chiếu xuống
thân thể ḿnh, theo luồng ánh sáng này là một con voi chiến,
thân h́nh trắng xóa với sáu chiếc ngà. Luồng ánh sáng
và con voi này bay càng lúc càng gần và cuối cùng nhập vào
thân bà. Lúc ấy Hoàng hậu Ma Da tỉnh dậy với một
niềm hoan hỷ tràn đầy, chưa từng có
trước đây.

Bà vội vàng đến báo cho vua biết và họ đem
việc này hỏi những người thông thái ở
trong hoàng cung. Những vị này cho biết: “Thưa Hoàng hậu!
Đây là một giấc mơ tuyệt diệu nhất. Giấc
mơ này cho biết hoàng hậu sẽ sinh một đứa
bé trai, và thái tử sau này sẽ trở thành một vĩ
nhân, không chỉ đem lại hạnh phúc cho riêng hoàng tộc
mà c̣n đem lại hạnh phúc cho toàn thể nhân loại”.
Nghe những lời tiên đoán tốt đẹp này vua và
hoàng hậu tràn ngập niềm vui. Đặc biệt nhà vua
rất sung sướng, v́ từ lâu ông ao ước có một
người con trai để nối ngôi, và ước
mơ đó hôm nay sắp thành sự thật.
Theo phong tục Ấn Độ thời đó, người
đàn bà khi sinh phải về nhà cha mẹ ruột của
ḿnh. Biết ngày sinh sắp đến, hoàng hậu Ma Da và
một số người bạn, người hầu rời
khỏi hoàng cung, bắt đầu chuyến hồi
hương.
Trên đường trở về, gần đến quê
hương không xa, hoàng hậu trở dạ. Biết ḿnh
sắp sinh con nên bà bảo mọi người dừng lại
nghỉ ngơi. Họ dừng chân tại vườn Lâm
Tỳ Ni (Lumbini) xinh đẹp, hoàng hậu vào trong khu
vườn t́m chỗ thích hợp nhất để sinh
con. Truyền thuyết kể rằng, ngay cả động
vật và thực vật dường như cũng muốn
giúp đỡ cho hoàng hậu trong việc sinh nở. Có một
nhánh cây rũ xuống, hoàng hậu đưa tay phải
lên nắm lấy nó. Ngay lúc ấy, hoàng hậu hạ sinh
thái tử. Những người hầu đă ẵm đứa
trẻ trong tay ḿnh và rất ngạc nhiên về vẻ xinh
đẹp kháu khỉnh dễ thương của đứa
bé.

__________________
muốn biết
nhân đời trước
nh́n quả báo đang thọ
muốn biết quả tương lai
nh́n những việc đang làm !
Lúc ấy khắp địa cầu tràn ngập
niềm an lạc và hạnh phúc. Mọi người quên hết
lo âu, xóa mọi hận thù, thương yêu lẫn nhau. Một
số người nh́n thấy cầu vồng xuất hiện
trên bầu trời và cùng với những điềm lành
kỳ diệu khác.
Những nhà thông thái trên khắp vương quốc
chăm chú theo dơi những dấu hiệu tốt lành này và
vui mừng bàn tán với nhau rằng: “Những điềm
lành xuất hiện khắp nơi như vầy xưa
nay thật hiếm có. Hôm nay là ngày trăng tṛn tháng tư,
chắc chắn đây là một ngày đặc biệt”.
Tin hoàng hậu Ma Da sinh thái tử đă nhanh ***ng lan truyền
khắp vương quốc. Hoàng hậu hân hoan ẵm thái
tử trở lại cung điện của vua.
Vua Tịnh Phạn đón tiếp hoàng hậu và đứa
con trai mới sinh trong niềm vui khó tả. Lễ hội
được tổ chức và khắp vương quốc
trang hoàng những cờ phướn, biểu ngữ
đủ màu sắc đẹp đẽ. Đây là thời
điểm hạnh phúc và thanh b́nh nhất. Khắp nơi
không có biểu hiện buồn khổ, do vậy vua và
hoàng hậu đă quyết định đặt tên cho
thái tử là “Tất Đạt Đa” (Siddhartha), nghĩa là: Người
đem đến điều tốt lành.
Lúc bấy giờ những nhà tiên tri tiên đoán cho đứa
trẻ. Họ nói: “Tâu bệ hạ, những dấu hiệu
lúc sinh của thái tử rất tốt. Khi lớn lên thái
tử sẽ có những đặc điểm hơn cả
Ngài hiện nay”. Nghe lời tiên đoán này khiến vua rất
tự hào, ông nghĩ: “Nếu lời tiên đoán này
đúng th́ con trai của ta, thái tử Tất Đạt Đa, sẽ
cai trị không những vương quốc nhỏ bé này,
mà có lẽ cả toàn thế giới. Ôi! Thật là vinh dự
cho ta và gia đ́nh ta quá”.
Những ngày đầu sau khi sinh thái tử, rất nhiều
người đến cung điện thăm đứa
bé. Một trong những người viếng thăm này là
ông già tên A Tư Đà. A Tư Đà là một nhà ẩn sĩ sống
trong rừng vắng và là một bậc danh sĩ tôn quư
lúc bấy giờ. Vua và hoàng hậu rất ngạc nhiên
khi thấy A Tư Đà rời khỏi khu rừng và xuất
hiện trong cung điện của họ. Vua nói: “Chúng tôi
rất vinh dự được ông đến thăm
chúng tôi, xin ông hăy cho chúng tôi biết mục đích của
ông và chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ những ǵ mà chúng
tôi có thể làm được”.

A Tư Đà trả lời: “Xin cám ơn ḷng tử
tế hiếu khách của bệ hạ. Tôi từ xa đến
đây thăm bệ hạ là v́ có dấu hiệu kỳ
diệu mà tôi mới thấy gần đây. Những dấu
hiệu này cho biết cậu bé trai mới sinh của
Ngài, sau này sẽ đạt được sự giác ngộ
tinh thần vĩ đại làm lợi ích cho tất cả
mọi người. Cái trí tuệ quư giá ấy là điều
mà suốt đời tôi đang cố gắng để
đạt được. Cho nên tôi vội vă đích thân
đến thăm cậu bé”.
Vua rất vui mừng và đi vào chỗ thái tử đang
nằm ngủ. Vua cẩn thận ẵm con lên và đem ra
cho A Tư Đà xem. Nhà tiên tri im lặng ngắm nh́n cậu bé
một lúc, rồi ông trở ra buồn rầu ngước
lên ngắm nh́n bầu trời rồi bật khóc.
Thấy A Tư Đà khóc, vua và hoàng hậu rất lo sợ. Họ
e rằng vị tiên tri đă nh́n thấy một vài điềm
không tốt nào đó của con ḿnh chăng? Trước
những giọt nước mắt của A Tư Đà, vua
cảm thấy rụng rời tay chân và thốt lên: “Ồ,
thưa ông, ông đă nh́n thấy dấu hiệu ǵ mà ông phải
khóc? Không phải chính ông và những nhà thông thái khác cũng
nói rằng con trai của tôi sau này sẽ trở thành một
vĩ nhân, đạt được trí tuệ tối cao
sao? Nhưng tại sao bây giờ khi nh́n đứa bé ông lại
khóc? Điều đó nghĩa là thái tử sẽ chết yểu
phải không? Hay là sẽ có những tai họa khủng
khiếp xảy ra cho nó? Nó là đứa con duy nhất của
tôi, tôi rất thương nó. Xin ông hăy nói nhanh đi những
ǵ mà ông thấy, tôi rất hồi hộp và lo sợ”.
Với một cái nh́n tŕu mến, A Tư Đà b́nh tĩnh nói
với họ không nên lo sợ. “Không phải tôi khóc v́
đă nh́n thấy những dấu hiệu xấu nơi
thái tử. Thật ra tôi thấy con trai của bệ hạ
có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt,
tám mươi vẻ đẹp, chắc chắn sau này lớn
lên sẽ trở thành bậc vĩ nhân.
Nếu con trai của bệ hạ theo con đường
nối nghiệp cha, th́ thái tử sẽ trở thành một
Chuyển luân thánh vương vĩ đại nhất lịch
sử. Thái tử sẽ cai trị cả một khu vực
rộng lớn, đem lại an lạc và hạnh phúc cho
mọi người. Nhưng nếu thái tử quyết
định không làm vua, th́ tương lai của thái tử
sẽ rạng rỡ hơn nhiều. Thái tử sẽ trở
thành một bậc đại giác, một vị thầy
cao quư, hướng dẫn chúng sinh sống theo đạo
lư yêu thương và tỉnh thức. Khi nh́n thấy những
cảnh khổ của cuộc đời, thái tử sẽ
ĺa bỏ hoàng cung và đi t́m con đường chấm dứt
mọi khổ đau. Rồi thái tử sẽ đem những
chân lư ấy để chỉ dạy cho bất cứ ai
muốn lắng nghe.
Không, thưa bệ hạ và hoàng hậu, tôi không khóc cho
đứa trẻ, mà chính là tôi đang khóc cho tôi. Như
Ngài cũng đă biết, tôi đă trải qua toàn bộ
cuộc đời để t́m chân lư, mong t́m ra con
đường chấm dứt mọi khổ đau. Và
hôm nay tôi đă gặp được thái tử, người
mà sau này sẽ chỉ dạy những điều mà tôi muốn
học. Nhưng đến lúc thái tử đủ tŕnh
độ để dạy th́ có lẽ tôi đă chết
rồi. Tôi không may mắn học được những
lời thái tử dạy trên cuộc đời này. Đó là
lư do tại sao tôi buồn. Đối với bệ hạ và
hoàng hậu không có ǵ đáng buồn cả. Hăy sung sướng
lên v́ ḿnh có được một người con vinh quang
như thế”.
Nói xong A Tư Đà ngắm nh́n đứa bé lần cuối
rồi từ từ rời khỏi hoàng cung. Vua tiễn
ông ra về rồi trở lại chỗ đứa con
trai của ḿnh. Vua rất sung sướng khi biết không
có ǵ nguy hiểm đến tính mạng của thái tử.
Ngài nghĩ: “A Tư Đà nói rằng Tất Đạt Đa sẽ
trở thành một vị vua vĩ đại, hoặc trở
thành một vị thầy cao quư. Nếu thái tử trở
thành một vị vua vĩ đại như điều
thứ nhất th́ hay biết mấy. Thật là tự hào
làm sao khi có một người con trai lừng danh và uy quyền.
Rồi khi con ta tới tuổi già như A Tư Đà, lúc
đó nó xuất gia trở thành một vị thầy cao
quư cũng được”.
Vua Tịnh Phạn sung sướng đứng ôm con trong
ḷng, để mặc cho những ḍng suy nghĩ, những
giấc mơ đẹp về đứa con sau này sẽ
trở thành vĩ nhân, cứ hiện về trong đầu
óc của ông.
Năm thái tử Tất Đạt Đa 9 tuổi, cậu
được vua cha cho đi dự lễ cày ruộng
đầu năm. Chính vua Tịnh Phạn là người
chủ tọa buổi lễ này. Các vị đạo sĩ
và tu sĩ Bà La Môn được mời tới dự. Buổi
lễ được cử hành nơi thửa ruộng tốt
nhất không xa hoàng thành. Không khí hôm nay thật tưng bừng
náo nhiệt. Các thầy Bà La Môn đang tụng kinh rất
nghiêm trang. Vua mặc hoàng bào và các vị quan cũng mặc
triều phục đang đứng xoay mặt về phía
lễ đài. Tất Đạt Đa cũng đứng tham dự
lễ, nhưng v́ các thầy xướng tụng quá lâu, cậu
cảm thấy nóng nực nên đi t́m chỗ mát dưới
tàn cây Diêm phù bên đường ngồi nghỉ.
Sau khi các thầy Bà La Môn kết thúc việc đọc
kinh, vua Tịnh Phạn bước xuống ruộng, nắm
lấy cán cày với sự phụ tá của hai vị quan
vơ, vua đă cày luống cày đầu tiên của mùa làm ruộng
mới. Dân chúng vỗ tay hoan hô vang rền. Các nông dân bắt
đầu xuống ruộng làm theo vua. Họ cày những
luống cày đầu tiên trên thửa ruộng của họ.

Nghe tiếng reo ḥ, Tất Đạt Đa cũng chạy ra xem.
Cậu nh́n thấy một con trâu đang nặng nhọc
kéo cày, theo sau là một bác nông dân lực lưỡng, tay
trái cầm cán cày, tay phải cầm cây roi quất mạnh
vào lưng con trâu. Trời nắng gắt, mồ hôi ông ta
chảy ra đẫm ướt cả thân ḿnh. Nơi
lưỡi cày đi qua đất được lật
ngửa rẽ ra thành luống hai bên trông thật ngay hàng
thẳng lối. Hàng ngàn con giun ở dưới đất
chui lên, có những con bị lưỡi cày cắt làm
đôi đang quằn quại trên luống đất. Những
con chim bay sà xuống thấp đớp lấy những
con giun đang vùng vẫy hoảng sợ. Rồi cậu lại
thấy một con chim lớn sà xuống rượt bắt
những con chim nhỏ để ăn thịt.
Trời lúc này nắng gắt, thái tử vừa mệt v́
nắng, vừa chán nản v́ thấy cảnh thú vật
ăn thịt lẫn nhau, cậu bèn trở lại chỗ
cây Diêm phù. Những h́nh ảnh mà Tất Đạt Đa vừa
thấy thật là mới lạ, đă kích thích cậu ngồi
xếp bằng dưới gốc cây và nhắm mắt lại
để chiêm nghiệm những ǵ đă thấy. Cậu
ngồi ngay thẳng với tư thế uy nghiêm và rất
đẹp. H́nh ảnh người nông dân cày ruộng cực
khổ đổ mồ hôi dưới ánh nắng nóng bức;
h́nh ảnh con trâu nặng nhọc kéo cày c̣n bị những
nhát roi quất lên ḿnh thành những vết thương
dài; h́nh ảnh những con giun bị luống cày cắt
đứt làm đôi đang vùng vẫy đau đớn;
h́nh ảnh những con chim nhỏ sà xuống bắt những
con giun; h́nh ảnh con chim lớn rượt bắt những
con chim nhỏ để ăn thịt; những cảnh
tượng tàn sát lẫn nhau để mà sống này cứ
hiện lên trong đầu của thái tử. Cuộc sống
quả là một cái ṿng đau khổ, tất cả chỉ
v́ miếng ăn mà phải cực khổ, đấu
tranh, tàn sát lẫn nhau để sống. Thái tử cảm
thấy xót thương cho bác nông dân, con trâu, con giun, con
chim ... cậu ước mong sao tất cả người
và vật không c̣n khổ đau nữa, không c̣n phải v́
sự sống mà ăn thịt lẫn nhau

Một lát sau khi vua và bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề tới gốc
cây Diêm phù để t́m con, thấy Tất Đạt Đa vẫn
c̣n ngồi đó. Bà cảm động đến khóc khi
thấy Tất Đạt Đa ngồi đẹp như một
pho tượng nhỏ dưới gốc cây. Nhưng vua
th́ lại lo ngại v́ thái tử mới có 9 tuổi mà
đă biết ngồi trầm tư như thế th́ lời
tiên đoán của Đạo sĩ A Tư Đà có thể trở
thành sự thật.
Sau khi sinh thái tử được 7 ngày th́ hoàng hậu Ma
Da từ trần. Trước khi qua đời, hoàng hậu
đă dặn ḍ người em của ḿnh là Ma Ha Ba Xà Ba Đề
(Mahapajapati): “Chắc chị sẽ không c̣n sống lâu
để chăm sóc con được nữa. Sau khi chị
mất, em hăy chăm sóc Tất Đạt Đa giùm chị”.
Người em nhận lời. Bà hứa sẽ
thương yêu thái tử và chăm sóc cháu như là con của
ḿnh.
Thái tử lớn lên trở thành một cậu trai thông
minh, xinh đẹp và nhân từ. Vua đă sắp xếp
cho thái tử được học với những vị
thầy danh tiếng nhất vương quốc, và thái tử
đă tỏ ra là một người thông minh phi thường.
Sau vài ngày đầu học tập, những vị thầy
đă tŕnh lên vua rằng: “Muôn tâu bệ hạ! Thái tử
rất thông minh, những bài học chúng tôi chỉ dạy
qua một lần là thái tử hiểu và nhớ rất kỹ.
Thật ra có những điều mà thái tử thắc mắc
chúng tôi không thể giải đáp, hoặc thái tử có những
hiểu biết mà chúng tôi chưa hiểu biết”.
Nghe được điều này, niềm tự hào của
vua về đứa con trai của ḿnh càng tăng thêm. Ông
sung sướng nghĩ: “Với sự thông minh này, thái tử
con ta chắc chắn sẽ trở thành một vị vua
thông minh và đầy uy quyền”.
Thế nhưng thái tử có một điều khác c̣n nổi
bật hơn cả sự thông minh của cậu: Đó là
ḷng tử tế, sự lịch thiệp và t́nh yêu thiên
nhiên. Đối với những đứa trẻ cùng trang lứa
với thái tử, chúng thích đùa giỡn, nghịch phá hoặc
chia phe đánh nhau trong những lúc rảnh rỗi. Riêng
thái tử th́ ngược lại thích ngồi yên lặng
một ḿnh. Cậu thương yêu các súc vật nhỏ sống
ở trong vườn của hoàng cung và trở thành
người bạn thân thiện của chúng. Những con
vật biết thái tử không làm thương tổn
chúng, cho nên chúng không bao giờ sợ thái tử. Ngay cả
những động vật hoang dại, chúng sẽ bỏ
chạy khi thấy một người nào đó đến
gần, nhưng mỗi khi thái tử vào trong vườn,
chúng lại mừng rỡ mon men đến gần và
ăn các thức ăn trên tay thái tử một cách tự
nhiên, v́ mỗi lần thái tử vào trong vườn đều
đem theo thức ăn cho chúng.
Một ngày nọ, thái tử đang ngồi trong vườn,
có một đàn thiên nga trắng xóa bay ngang trên đầu.
Bất ngờ, một mũi tên bắn lên không trung, trúng
vào một con trong bầy. Nó lảo đảo rồi
rơi xuống đất ngay trước chân của thái
tử, mũi tên vẫn c̣n ghim nơi cánh của nó.
“Ôi! Tội nghiệp con thiên nga quá”, thái tử nhủ thầm
và ôm con chim lên, “đừng có sợ nghe cưng, ta sẽ
chăm sóc cho con, từ từ rồi ta sẽ lấy mũi
tên ra cho”. Thế rồi tay này thái tử nhẹ nhàng vuốt
ve con thiên nga để nó bớt sợ, tay kia thái tử
rút mũi tên ra một cách thận trọng. Xong thái tử
lấy thuốc rửa chùi vết thương cho nó, vừa
làm thái tử vừa th́ thầm an ủi khiến cho nó
không c̣n sợ hăi nữa. Lau vết thương xong thái tử
cởi áo ngoài của ḿnh ra, quấn quanh ḿnh nó cho ấm.

Một lúc sau, có cậu thiếu niên chạy vào trong vườn.
Đó là người em họ của thái tử tên là Đề Bà
Đạt Đa (Devadatta). Cậu ta mang theo cung tên và rất vui mừng
nói: “Tất Đạt Đa, Tất Đạt Đa, em vừa mới
bắn được một con thiên nga. Anh thấy đấy,
em chỉ bắn có một phát thôi là đă hạ
được một con chim rồi. Nó rơi xuống
chung quanh đây, anh kiếm giúp giùm em đi”.
Ngay lúc ấy, Đề Bà Đạt Đa phát hiện một mũi
tên của ḿnh dính máu nằm ở dưới đất
gần bên chân của Tất Đạt Đa. Nh́n kỹ, cậu
ta thấy thái tử đang cầm vật ǵ trong tay và rồi
nhận ra đó là con thiên nga mà cậu đang t́m. Cậu
la lên: “Anh lấy con thiên nga của em đấy à? Đưa
lại cho em đi. Em đă bắn hạ nó th́ nó là của
em”. Đề Bà Đạt Đa liền chụp lấy con chim,
nhưng thái tử ôm sát nó vào ḷng ḿnh, khiến Đề Bà Đạt
Đa tức giận vô cùng.
Thái tử nói một cách kiên quyết rằng: “Anh đă bắt
gặp con chim nằm quằn quại đầy máu
nơi ḿnh. Anh không thể đưa nó cho bất cứ ai
khi nó đang bị thương”.
Đề Bà Đạt Đa la lên: “Nhưng nó là của em. Chính em
đă bắn nó, anh phỗng tay trên của em đâu có
được. Hăy trả nó lại đây”.
Hai cậu thiếu niên đứng tranh căi một hồi.
Đề Bà Đạt Đa càng lúc càng trở nên giận dữ,
nhưng thái tử vẫn một mực không giao con thiên
nga cho cậu ta. Sau cùng thái tử nói: “Khi hai người
tranh căi một vấn đề không xong th́ nên giải quyết
bằng pháp luật. Trước những người
thông thái có thẩm quyền, chúng ta cứ tŕnh bày những
sự việc xảy ra, để cho những vị này
quyết định ai đúng. Tôi nghĩ chúng ta nên giải
quyết bằng cách này là tốt nhất”.
Đề Bà Đạt Đa không thích ư kiến này lắm, song chỉ
c̣n có cách này mới hy vọng lấy lại được
con thiên nga mà thôi, nên cậu phải đồng ư. Rồi
họ đi vào cung điện, thưa lại với vua
và quần thần. Mọi người đều bật
cười với nhau khi nghe họ tŕnh bày sự việc.
Các quan nói: “Chỉ có mỗi một con chim mà làm mất thời
giờ của chúng tôi quá, thật không đáng tí nào”.
Nhưng vua lại nói: “Tất Đạt Đa và Đề Bà Đạt
Đa là những thái tử của hoàng tộc, trẫm rất
vui mừng v́ chúng đă biết nhờ chúng ta giải quyết
những việc bất b́nh bằng xét xử. Trẫm nghĩ
điều đó rất quan trọng, bởi v́ chúng là những
nhà lănh đạo tương lai, biết dùng cách giải
quyết bằng pháp lư. Chúng ta hăy xét xử xem sao”.
Sau đó mỗi cậu tŕnh bày những sự việc
đă xảy ra. Các quan cố gắng lắng nghe để
quyết định ai đúng, th́ con thiên nga sẽ thuộc
về người đó. Người th́ cho rằng Đề
Bà Đạt Đa bắn con chim, đương nhiên nó thuộc
về cậu ta. Người khác lại cho rằng Tất
Đạt Đa bắt được con thiên nga th́ nó thuộc
về thái tử. Các quan bàn luận với nhau mà chưa
giải quyết dứt điểm.
Cuối cùng một ông lớn tuổi nhất nói: “Giá trị
của sự sống quư hơn tất cả mọi thứ
trên thế gian này. V́ thế tôi nghĩ rằng con thiên nga
thuộc về ai đă cứu sống nó, không thuộc về
người đă cướp mất đời sống
của nó. Vậy con thiên nga này là của Tất Đạt
Đa”.
Mọi người vỗ tay hoan hô ư kiến này. Thế
là thái tử Tất Đạt Đa được mọi
người biểu quyết thắng cuộc.
Thái tử ngày càng trưởng thành, ḷng nhân
ái của cậu càng được mọi người
thương yêu quư mến. Song cha của cậu th́ lại
lo rầu. Ông nghĩ: “Tất Đạt Đa quá nhân ái và nhiều
cảm xúc. Ta muốn con trai của ta trở thành một
vị vua vĩ đại, có sức mạnh và đầy
uy lực. Nhưng thái tử lại thích trầm tư một
ḿnh ở trong vườn hơn là học cách thức cai
trị một vương quốc. Ta lo lắng con trai của
ta chẳng bao lâu sẽ từ bỏ hoàng cung, sống
đời ẩn sĩ như lời đạo sĩ A
Tư Đà đă tiên đoán. Nếu thật sự như vậy
th́ thái tử sẽ không bao giờ trở thành vị vua vĩ
đại”.
Vua rất lo lắng về việc thái tử sẽ ra
đi. Vua đem nỗi lo của ḿnh tŕnh bày cho các quan
nghe. Có một người đề nghị: “Tâu bệ hạ,
thái tử hay ngồi lặng yên và mơ mộng về những
thế giới khác, bởi v́ cậu ta chưa tiếp xúc
với hiện thực của cuộc đời này. Xin
bệ hạ hăy kiếm cho thái tử một người
vợ, khi thái tử có vợ và có con rồi sẽ không
c̣n mơ mộng nữa và sẽ quan tâm đến việc
học tập, cách thức cai trị vương quốc”.
Vua cho rằng đây là một đề nghị rất
tuyệt vời. Vua liền cho tổ chức một buổi
nhạc hội lớn ở trong cung điện. Tất
cả những thiếu nữ xinh đẹp từ các
gia đ́nh quư tộc được mời đến
tham dự. Cuối buổi nhạc hội thái tử
được mời tặng quà cho từng cô gái, trong
lúc thái tử tặng quà các quan theo dơi xem chàng thích cô nào.
Những cô gái trẻ rất lúng túng khi xuất hiện
trước thái tử. Thái tử trông đẹp trai và nổi
bật hẳn giữa đống quà đắt tiền
để trên bàn phía trước mặt. Từng cô gái rụt
rè tiến đến chỗ thái tử, không dám nh́n lên. Các
cô lặng lẽ nhận nhẫn, ṿng xuyến xong vội
vă trở về chỗ cũ.
Cuối cùng có một cô gái trẻ tên là Da Du Đà La
(Yasshodara), con gái của ông vua nước lân cận, không
như những cô gái khác, cô tiến đến chỗ thái
tử một cách tự nhiên. Đây là lần đầu trong
đêm, thái tử nh́n chăm chú vào cô gái này. Nàng rất
xinh đẹp và thái tử dường như đă bị
sắc đẹp của nàng thu hút.
Họ đứng bất động, bốn mắt nh́n
nhau say đắm. Lúc ấy Da Du Đà La dịu dàng lên tiếng:
“Dạ thưa thái tử, quà của em đâu?”. Thái tử
như người trong mơ vừa tỉnh, cậu nh́n
xuống bàn nhưng quà tặng đă hết. Thái tử vội
nói: “Đây, hăy nhận món quà này”. Thái tử tháo chiếc nhẫn
trong tay ra. “Đây là món quà anh tặng em”. Da Du Đà La lịch sự
đón nhận chiếc nhẫn và từ từ đi về
chỗ cũ.
Các quan đă thấy rơ mọi việc và vui mừng đến
báo cho vua biết. Họ sung sướng tường thuật:
“Tâu bệ hạ, chúng tôi đă t́m được một
cô gái xứng đáng cho thái tử. Cô ta là công chúa Da Du Đà
La, con gái của vua Thiện Giác (Suprabuddha) ở nước
láng giềng. Xin bệ hạ hăy đi qua gặp ông vua này
và xin cưới con gái của ông cho thái tử”.
Vua Tịnh Phạn đồng ư và chuẩn bị lễ
vật đi qua gặp cha của Da Du Đà La. Vị vua này
tiếp đón vua Tịnh Phạn rất thân mật và
nói: “Tôi biết con trai của Ngài là một người rất
tốt, song tôi không thể gả con gái của ḿnh cho một
người nào đó một cách đơn giản. Nhiều
thái tử khác cũng xin cưới con gái tôi và họ
đều là những chàng trai tuyệt vời. Họ rất
điệu nghệ trong việc cưỡi ngựa, bắn
cung và chơi các môn thể thao quư tộc khác. Thái tử sẽ
phải thi tài với những người cầu hôn
đó theo phong tục của chúng tôi”.
Sau đó một cuộc thi tài được tổ chức
và Da Du Đà La xinh đẹp là phần thưởng quư giá nhất.
Vua Tịnh Phạn rất lo âu, ông nghĩ: “Con trai ta không
quan tâm đến các môn chơi của chiến sĩ, liệu
nó có thể chiến thắng cuộc thi tài này không?”. Thái
tử hiểu được nỗi lo của cha nên
thưa rằng: “Xin vua cha đừng quá lo lắng. Con sẽ
làm hết khả năng của ḿnh để chiến thắng
và Da Du Đà La sẽ là vợ của con”.
Cuộc thi đầu tiên là bắn cung. Những chàng trai
đặt những tấm bia của họ ở khoảng
cách xa mà họ có thể bắn trúng chấm giữa của
bia. Khi tới lượt Đề Bà Đạt Đa – em họ của
Tất Đạt Đa – cậu ta không chỉ bắn trúng điểm
giữa của bia, mà c̣n xuyên qua cả tấm bia. Mọi
người hoan hô nồng nhiệt. Riêng Da Du Đà La lại
che giấu nỗi lo của ḿnh. Cô nghĩ: “Làm sao Tất
Đạt Đa yêu quư của ta có thể bắn được
như thế?”
Thái tử rất tự tin ở khả năng của
ḿnh. Đến lượt chàng thi bắn, Tất Đạt Đa
đặt tấm bia xa tít tầm mắt mọi người.
Rồi chàng lấy một mũi tên từ trong bao ra nạp
vào cung. Tuy nhiên do thái tử quá mạnh tay nên khi kéo cây cung
đă găy đôi.
Thái tử nói: “Làm ơn t́m cho tôi một cây cung khác, chắc
hơn cây cung này”.
Một ông quan nói: “Thưa thái tử, có một cây cung rất
cổ ở trong cung. Cây cung này của một chiến sĩ
mạnh nhất thời bấy giờ. Kể từ khi
ông ta chết đến nay chưa có ai đủ sức
kéo nổi dây cung này, huống hồ bắn nó được”.
“Tôi sẽ bắn cây cung ấy”, thái tử tuyên bố
trước sự ngạc nhiên của mọi người.
Sau khi họ đem cây cung đến, thái tử cầm
cây cung lên, thử uốn cong và kéo dây một cách dễ
dàng. Sau đó thái tử tra tên vào cung, kéo hết dây và nhắm
mục đích. Choang! Phát tên bắn ra kêu to đến nỗi
những người trong làng cách xa đó cũng nghe
được. Mũi tên xé gió đi rất nhanh, khi nó
trúng tấm bia – ngay trung tâm điểm – chẳng những
nó không dừng lại đó mà c̣n xuyên qua tiếp tục
và bay xa tít tầm mắt của mọi người.
Đám đông hoan hô nồng nhiệt “Thái tử chiến thắng!
Thái tử chiến thắng!”. Song bắn cung mới chỉ
là cuộc thi tài đầu tiên trong ngày. Cuộc thi đấu
kế tiếp là kiếm thuật.
Mỗi người chọn một cây kiếm và biểu
lộ sức mạnh của ḿnh bằng cách hạ thân
cây gần đó với một nhát gươm của ḿnh.
Người thứ nhất hạ một thân cây dầy
khoảng 15 cm. Người thứ hai 22 cm. Người thứ
ba 30 cm.
Đến lượt thái tử, chàng chọn
một cây mà hai thân mọc sát nhau. Thái tử vung
gươm chém một nhát thật nhanh, cắt ngang thân cây
trong chớp mắt, nhưng nó vẫn đứng sừng
sững đó. Lưỡi gươm của thái tử
quá bén đến nỗi vết cắt không làm cho thân cây
đổ ngă. Khi mọi người nh́n thấy cây không
đổ, cả đám đông, nhất là Da Du Đà La than thở:
“Thái tử đă thất bại. Nhát gươm của
chàng đă không cắt đứt được thân cây”.
Lúc ấy chợt một cơn gió mạnh thổi đến
làm thân cây lay động và từ từ lật đổ.
Lời than của đám đông chuyển qua vui mừng
và họ lại reo lên: “Thái tử chiến thắng”.
Cuộc thi cuối cùng là môn cưỡi ngựa. Một
con ngựa hoang hung dữ, chưa có người nào cưỡi
được nó, đang được những người
đàn ông khỏe mạnh dắt ra. Mỗi người cầu
hôn gắng leo lên cưỡi nó. Nhưng con ngựa cứ
nhảy chồm lên và đá hậu rất dữ. Không một
ai có thể leo lên lưng nó được. Cuối cùng một
chàng trai cũng đă điều phục được
nó, ngồi trên lưng nó để cho những người
giữ ngựa dắt đi. Thế nhưng chỉ một
lát nó đă nhảy bổ lên với sự giận dữ,
hất người ngồi trên lưng nó rơi xuống
đất. Nếu không được sự cứu giúp
kịp thời của những người giữ ngựa
lôi anh ta ra chỗ an toàn, th́ có lẽ ngựa đă giẫm
anh chết rồi.
Khán giả bắt đầu la ó: “Hăy ngưng ngay cuộc
thi đấu này đi! Không nên để thái tử đến
gần con ngựa đó. Nó rất nguy hiểm. Nó sẽ
giết chết thái tử”. Nhưng thái tử vẫn b́nh
tĩnh. Chàng nghĩ: “Tính hiền dịu có năng lực
hơn cả sức mạnh vũ phu”. Thái tử từ từ
tiến ra chỗ con ngựa. Chàng vuốt ve những cḥm
lông trên đầu nó, nói th́ thầm vào lỗ tai nó, nhẹ
nhàng vuốt lên đầu lên ḿnh nó. Thái tử đă làm dịu
đi cơn giận dữ và sợ hăi của nó.
Một lát sau con ngựa trở nên hiền lành. Nó bắt
đầu liếm tay của Tất Đạt Đa. Thái tử
vẫn th́ thầm dịu ngọt với nó. Sau đó chàng
leo lên lưng nó một cách dễ dàng. Thái tử cưỡi
ngựa diễu hành ngang qua mọi người, trong những
tiếng reo ḥ vui mừng của họ. Thái tử đă
đón nhận phần thưởng quư giá, đó là công
chúa Da Du Đà La xinh đẹp. Cuộc thi tài đă kết
thúc. Thái tử Tất Đạt Đa đă chiến thắng.
Cuộc thi tài đă chứng tỏ thái tử Tất Đạt
Đa không chỉ có sức mạnh phi thường, mà c̣n có cả
ḷng từ bi vô hạn nữa.
Chẳng bao lâu thái tử Tất Đạt Đa và công chúa Da Du
Đà La tổ chức lễ cưới. Vua mong muốn con
trai của ḿnh sẽ không có ư ĺa bỏ vương quốc,
nên ông đă ra lệnh cho xây ba cung điện tuyệt
đẹp để cho đôi vợ chồng mới
cưới ở. Vua nói với những người thợ
xây dựng: “Hăy làm chúng thật tuyệt đẹp, ta muốn
những ngôi nhà này thật nguy nga lộng lẫy, đến
mức khi người ta vào trong đó sẽ nghĩ rằng
họ đang ở nơi thiên đường.
“Ta muốn xây một cung điện mùa Hè làm bằng cẩm
thạch mát rượi và bao quanh là những ao hồ, những
suối nước mát. Cái thứ hai là cung điện mùa
Đông, ấm áp và thoải mái. Cái thứ ba sẽ dùng cho mùa
mưa. Vị trí của các cung điện này sẽ ở
giữa một công viên lớn, với cảnh đẹp
nh́n từ mọi mặt. Một bức tường cao lớn
xây bao quanh công viên để những thứ phiền toái ở
bên ngoài không thể xâm nhập được. Mọi thứ
đều tốt đẹp toàn hảo để thái tử
Tất Đạt Đa không bị cảnh khổ cuộc đời
xúi giục từ bỏ”.

Vua cố gắng làm hết sức ḿnh để cho những
ngôi nhà này thật đẹp, thật hấp dẫn nhằm
thu hút thái tử. Vua mời những dàn nhạc tài nghệ
trong nước đến biểu diễn suốt ngày
đêm. Tất cả người phục vụ đều
là những cô gái trẻ đẹp giỏi khiêu vũ. Đầu
bếp phải nấu những món ăn ngon và thay đổi
liên tục. Không ai được phép vào trong cung điện
làm xáo trộn tâm trí yên tĩnh của thái tử, gợi
cho thái tử ư niệm từ bỏ cung điện.
Đă nhiều năm qua thái tử Tất Đạt Đa sống
trong cảnh thiên đường này. Từ sáng tới tối
thái tử được tiêu khiển bằng hàng ngàn thứ
khác nhau. Chàng không bao giờ nh́n thấy những thứ
không tốt đẹp, không hề nghe những âm thanh
không được êm dịu ngọt ngào. Nếu có một
người nữ hầu bị bệnh, cô ta sẽ lập
tức được đưa đi chỗ khác cho
đến khi nào lành bệnh mới được trở
lại. Với biện pháp này thái tử sẽ không bao giờ
thấy cảnh người bệnh hay bất cứ cái
ǵ gây ảnh hưởng không tốt đến suy nghĩ
của thái tử. Vua c̣n ra lệnh tất cả mọi
người không được nói những chuyện buồn
rầu chán nản với thái tử. Ngay cả một cây
hoa trong vườn bắt đầu héo rũ, người
làm vườn phải nhổ bỏ đem đi nơi
khác. Làm như vậy thái tử sẽ không bao giờ thấy
những bông hoa héo tàn. Với những biện pháp này, vua
muốn thái tử không thấy biết ǵ về những
nỗi khổ và những điều bất hạnh của
cuộc sống hiện thực.
Thời gian êm đềm trôi qua như một giấc
mơ. Da Du Đà La đă sinh một bé trai là La Hầu La
(Rahula) và mọi việc dường như trôi qua một
cách tốt đẹp. Vua rất hài ḷng v́ biện pháp của
ḿnh đă làm cho thái tử quan tâm đến đời sống
hoàng gia hơn là việc từ bỏ cung điện. Thế
nhưng điều đó không có nghĩa là thái tử sung
sướng nhất đời khi có được đứa
con trai và sẽ thỏa măn đời sống trong sự
huy hoàng nhàn hạ ấy. Một ngày nào đó khi nhân duyên
đầy đủ, thái tử cũng sẽ khám phá ra
chân lư của cuộc đời.
Một buổi chiều sau khi dùng cơm
xong, thái tử Tất Đạt Đa nằm nghỉ trên giường,
đầu tựa vào ḷng của Da Du Đà La. Nhạc công
đang chơi những điệu nhạc nhẹ nhàng êm
dịu. Những nàng hầu đang th́ thầm và mỉm
cười vui vẻ với nhau. Kể từ khi chuyển
vào cung điện như ư này, chiều nào thái tử cũng
được thưởng thức những cuộc vui
như vầy. Nhưng đêm nay thái tử cảm thấy
bồn chồn khó ngủ. Thái tử đề nghị với
một nhạc công ưa mến nhất: “Hăy ru ta ngủ
bằng một bài ca hay. Nhớ chọn một bài mà các bạn
chưa từng hát trước đây”.

Người ca sĩ thanh lịch vâng lời và bắt
đầu hát những lời ca nhẹ nhàng êm ái, phát ra từ
tâm hồn của ḿnh và được nhạc công đệm
phụ họa theo một cách hài ḥa. Bài hát ca ngợi vẻ
đẹp của thế giới, những vùng đất
xa nơi mà cô ta đă đi qua khi c̣n thơ ấu; ca ngợi
thành phố thịnh vượng nơi mà dân chúng đang
sống tràn đầy hạnh phúc an vui.
Bài ca đă làm say mê thái tử. Ca sĩ vừa hát dứt lời,
thái tử liền hỏi: “Hăy nói thật cho ta biết, có
những nơi tuyệt đẹp bên ngoài bức tường
của khu vườn này không? Người ta đă sống
như thế nào trong thành phố ấy? Và những thứ
mà thế giới bên ngoài đó có đáng yêu hơn những
thứ ta đă thấy trong cung điện lộng lẫy
này không? Hăy nói cho ta biết sự thật về tất cả
những thứ ấy đi”.
Cô gái trả lời: “Thưa thái tử, chắc chắn
cung điện mà thái tử đang sống là tuyệt vời
nhất rồi. Thế nhưng cũng c̣n có nhiều thứ
khác đẹp hơn ở thế giới bao la bên ngoài
cung điện này. Những thành phố và tỉnh lỵ
với những dăy phố xinh đẹp; những núi
đồi và thung lũng hùng vĩ nên thơ; có những
vùng đất xa xôi nơi ấy người ta nói các thứ
ngôn ngữ khác nhau. Có nhiều thứ mà tiện thiếp
đă thấy và cũng c̣n rất nhiều thứ mà tiện
thiếp chỉ mới nghe đến. Cung điện và
khu vườn của thái tử thật ra rất xinh
đẹp, song vẫn c̣n có rất nhiều thứ
đáng được thưởng ngoạn ở bên
ngoài của bức tường thành này”.
Nghe xong thái tử rất mong muốn được ngắm
nh́n tận mắt những cảnh quan đẹp và lạ
ấy. Đă nhiều năm qua thái tử chỉ sống
trong những bức tường của khu vườn và
cung điện như ư, hoàn toàn không để ư đến
thế giới bên ngoài. Bây giờ thái tử ao ước
được du ngoạn bên ngoài cung điện và chàng
đă gởi lời thỉnh cầu đến vua cha cho
phép chàng được dạo quanh thành phố.
Vua đă đồng ư lời thỉnh cầu của con
trai. Ông nghĩ: “Bây giờ con trai ta mong muốn được
nh́n thấy vương quốc của ta. Đây là thời
điểm thích hợp, bởi lẽ nó đă thỏa măn
trong cung điện như ư rồi, bây giờ để
cho nó được nh́n thấy thực tế
vương quốc mà nó sẽ cai trị sau này”.
Vua không muốn con trai của ḿnh trông thấy những thứ
phiền ḷng khi đi du ngoạn. Bởi v́ những thứ
ấy có thể khiến cho thái tử khởi lên ư nghĩ
sẽ từ bỏ vương quốc đi theo đời
sống ẩn sĩ. Cho nên trước ngày thái tử
đi thăm thành phố, vua đă chỉ thị cho các
quan quân đi thông báo cho dân chúng biết rằng: “Ngày mai
thái tử Tất Đạt Đa sẽ đi thăm thành phố
Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu). Mọi người hăy trang
hoàng nhà cửa và đường phố cho sạch đẹp.
Những người già yếu bệnh tật phải ở
trong nhà suốt ngày mai. Mọi thứ trong thành phố phải
tươi tốt sạch đẹp”. Sau đó quân đội
đă đưa tất cả những người ăn
xin trên đường phố đến nơi mà thái tử
không đi ngang qua.
Sáng hôm sau, Xa Nặc (Channa) người chăn ngựa
đă chuẩn bị con ngựa Kiền Trắc (Kantaka)
yêu quư của thái tử và đưa thái tử ra khỏi
hoàng cung. Trong suốt thời thơ ấu đây là lần
đầu tiên thái tử được ngắm nh́n quang
cảnh thành Ca Tỳ La Vệ. Và đây cũng là lần
đầu người dân của thành phố được
nh́n thấy thái tử của họ. Mọi người
rất sung sướng đứng xếp thành hàng trên những
con đường mới trang hoàng để được
ngắm nh́n chàng trai trẻ đẹp đi ngang qua. Họ
nói với nhau: “Trông thái tử tướng hảo quang
minh và dễ thương làm sao”. Người th́ nói: “Cặp
mắt của thái tử đẹp thật. Chúng ta rất
diễm phúc được thái tử sẽ là vua của
chúng ta trong tương lai”.
Thái tử cũng rất sung sướng khi nh́n thấy mọi
thứ. Thành phố trang hoàng lộng lẫy và sạch
đẹp. Nơi nào cũng thấy người ta vui
cười, hoan hô và ca múa. Trên đường nơi thái
tử đi qua dân chúng vui mừng rải hoa đầy
lên người thái tử yêu quư của họ. Thái tử
sung sướng nhớ lại: “Bài ca thật là đúng.
Đây quả là một thành phố phồn vinh, xinh đẹp
và tốt lành”.
Thế nhưng khi thái tử và người chăn ngựa
đang đi qua đám đông, họ bỗng phát hiện
một người già khom lưng vẻ mặt buồn rầu
trong đám người vui vẻ. Lạ kỳ – bởi
v́ thái tử chưa thấy những người già
như vầy – nên thái tử quay qua hỏi: “Xa Nặc,
người đó là ai vậy? Tại sao ông ta lại cúi
gập người và không ca múa như mọi người?
Tại sao gương mặt của ông không tươi
láng như những người khác, mà lại tái nhợt và
nhăn nheo? Tại sao ông ta khác người như vậy?”
Xa Nặc chỉ người đàn ông đang lẩn khuất
ở trong đám đông và trả lời với thái tử
rằng: “Thưa thái tử, đó chỉ là một ông
già”.
“Ông già!”, thái tử hỏi lại. “Người này luôn
luôn “già” như vậy từ trước đến nay
hay nó chỉ mới xảy ra gần đây?”
Xa Nặc trả lời: “Không, thưa thái tử. Nhiều
năm trước ông già này cũng là một thanh niên khỏe
mạnh như những người khác mà Ngài đă nh́n thấy
tại đây hôm nay. Nhưng dần dần sức khỏe
của ông ta giảm sút, thân thể khom dần, màu sắc
của gương mặt héo tàn, răng rụng. Và bây giờ
thân thể ông ta tàn tạ như thế”.
Vừa ngạc nhiên vừa buồn bă thái tử hỏi lại:
“Người đàn ông đáng thương ấy chỉ
có một ḿnh ông ta đau khổ v́ tuổi già sức yếu?
Hay những người khác cũng phải bị như
vậy?”.
“Thưa thái tử, tất cả mọi người
đều phải trải qua tuổi già. Thái tử, tôi,
vợ và con thái tử cùng mọi người trong cung
điện, chúng ta đang trở nên già từng giây từng
phút. Một ngày nào đó chúng ta sẽ giống ông già này”.
Những lời này làm cho thái tử buồn rầu trầm
ngâm giây lâu. Thái tử giống như người bị
khủng hoảng bởi một tiếng sét đột ngột.
Một hồi lâu thái tử lấy lại b́nh tĩnh và
nói: “Này Xa Nặc, những ǵ ta thấy hôm nay ta không muốn
thấy nữa. Trong giữa những người trẻ
tuổi vui sướng này, cảnh tượng của
người già đă làm ta chán ngán. Hăy quay trở lại
cung điện. Tất cả những thú vui của cuộc
đi dạo này đă trôi qua. Hăy trở về ngay, ta không
muốn thấy nữa”.
Xa Nặc vâng lệnh. Khi họ về tới nhà, thái tử
đi một mạch vào cung điện không nói với ai
lời nào, vội vă lên lầu và vào pḥng riêng ngồi lặng
yên một ḿnh. Mọi người nhận ra sự lạ
kỳ này và đă cố gắng làm cho thái tử vui vẻ,
nhưng không có kết quả. Tới giờ ăn thái tử
không thiết ăn một món ǵ, dù cho người đầu
bếp đă sửa soạn một bữa ăn thật
ngon. Thái tử không quan tâm đến âm nhạc hay khiêu vũ,
chỉ ngồi trầm ngâm một ḿnh: “Tuổi già, tuổi
già, tuổi già ...”

Vua Tịnh Phạn nghe được tâm trạng
không hài ḷng của con trai ḿnh và cho rằng có điều
ǵ chưa vừa ư. Vua nghĩ: “Ta sẽ sắp xếp một
cuộc đi dạo khác cho thái tử, nhưng lần này
cảnh quan của thành phố phải tươi đẹp
hơn”.
V́ thế Xa Nặc chuẩn bị con ngựa Kiền Trắc
một lần nữa và họ đă rời khỏi cung
điện đi vào thành phố Ca Tỳ La Vệ. Trên những
con đường được trang hoàng xinh đẹp
hơn trước, và người ta rất sung sướng
đón chào thái tử. Nhưng lần này thái tử và
người giữ ngựa lại nh́n thấy một
người bệnh xuất hiện ở trong đám
đông đang vui cười ấy.
Thái tử chợt thốt lên: “Nh́n ḱa Xa Nặc. Người
đàn ông kia làm sao mà ho dữ dội, run cả thân thể
và rên rỉ thảm thương như thế?”
– Thưa thái tử đó là người bệnh.
– Tại sao ông ta bị bệnh?
– Người ta bị bệnh có rất nhiều lư do,
thưa thái tử. Có lẽ ông ta ăn nhầm thức
ăn xấu, hoặc là để cho thân thể nhiễm
lạnh nên bị mất quân b́nh và ông ta bị cảm sốt.
– Tất cả những người vui vẻ trong đám
đông đó cũng có thể bị bệnh như
người này không?
– Thưa thái tử, có. Bất cứ người nào dù khỏe
đến đâu cũng có ngày bị bệnh. Bệnh tật
không chừa một ai cả.
Cuộc đi du ngoạn lần thứ hai này thái tử bị
cú sốc nặng hơn. Thái tử nói: “Ta không sao hiểu
nổi, làm thế nào mà người ta lại vô tư và
vui sướng khi bệnh tật đang từng phút từng
giây đe dọa họ. Thôi hăy quay trở về đi Xa
Nặc, ta đă nh́n thấy sự thật về cuộc
đời qua cuộc đi dạo ngày hôm nay rồi”.
Khi thái tử trở về cung điện, thái tử cảm
thấy buồn hơn cuộc đi dạo lần
trước. Không ai làm cho thái tử vui cười
được và thái tử cũng không muốn nói chuyện
với ai. Khi vua cha biết được con trai ḿnh không
được vui sau chuyến đi thứ hai này, ông rất
lo âu và bối rối: “Ta đă làm hết sức ḿnh để
cho con trai ta vui vẻ, song cuối cùng trái tim của nó lại
tràn đầy buồn rầu. Ta phải hỏi các quan
xem có cách nào làm cho con trai của ta tươi vui hơn
không”.
Các quan đề nghị với vua rằng, lần sau
thái tử muốn đi dạo th́ không nên để thái tử
đi một ḿnh. Tốt hơn nên cho các ca sĩ, vũ
công và những người quư phái trong cung cùng đi với
thái tử. Họ sẽ có kế hoạch đưa thái tử
đi thăm một khu vườn đặc biệt
đă được chuẩn bị sẵn, nơi
đây thái tử sẽ được giải trí bởi
tất cả các thứ vui chơi.
Khi thái tử Tất Đạt Đa xin đi dạo thành phố
một lần nữa, mọi thứ được chuẩn
bị chu đáo và hết sức thoải mái. Thành phố
được trang hoàng đẹp hơn lần trước.
Tất cả những cảnh quan xấu được
chuyển đi hết và khu vườn đặc biệt
được chuẩn bị với tất cả thú
vui trong ấy.
Tất Đạt Đa và Xa Nặc lại rời khỏi cung
điện bằng ngựa. Cùng đi có các quan hộ tống,
những nhạc công và người hầu, giống
như một buổi lễ diễu hành. Cũng như những
lần trước, dân chúng đứng thành hàng trên
đường phố và họ say mê ngắm nh́n đoàn
diễu hành của hoàng gia.
Song lần đi dạo thứ ba này, thái tử và Xa Nặc
lại nh́n thấy một cảnh tượng đau buồn.
Đó là một tốp người u sầu đang khiêng một
chiếc quan tài người chết, xuất hiện từ
trong căn nhà và đang chậm chạp đi ra đường.
– Xa Nặc, tại sao người đàn ông kia lại nằm
im trong chiếc hộp? Ông ta ngủ hay sao? Tại sao những
người đi theo lại khóc? Và họ khiêng ông ta
đi đâu?
– Thưa Ngài, đó là người chết. Họ đang
đưa ông ta đến bờ sông, nơi đó sẽ
thiêu thân xác ông ta.
Thái tử ngạc nhiên hỏi: “Chết à? Chết nghĩa
là ǵ? Và nếu họ thiêu đốt thể xác của ông
ta, ông ta có bị đau đớn không? Xa Nặc hăy giải
thích cho ta rơ vấn đề này”.
Xa Nặc đành phải giải thích cho thái tử biết
về những sự thật mà cha của Ngài đă giấu
kín từ nhiều năm qua. “Cuộc đời của
người đàn ông đó cũng như thái tử và tôi
bây giờ. Ông ta sinh ra, lớn lên, rồi trở thành một
người đàn ông. Ông ta đă trải qua những sự
vui buồn thăng trầm của cuộc sống, nào là
xây dựng gia đ́nh, làm việc để nuôi sống bản
thân và vợ con. Trải qua thời gian vài chục năm,
thân thể ông ta trở nên già yếu, bệnh tật và nằm
liệt trên giường. Lúc ấy ông ta không c̣n nhận
thức được ǵ nữa, ngay cả đến những
người bạn thân thiết nhất. Rồi ông ta ngày
một yếu dần và cuối cùng hơi thở ĺa khỏi
xác. Mạng sống đến đây chấm dứt, và
ông ta đă chết. Chỉ c̣n lại cái xác lạnh lẽo
không hồn, không c̣n cảm giác ǵ nữa cả. Một
thân xác mà suốt đời ông ta chăm sóc nó nay trở
thành vô nghĩa, chỉ c̣n lại một nắm tro tàn sau
khi thiêu xong”.
– Ai cũng phải trải qua sự chết như vậy
phải không Xa Nặc?
– Không, thưa thái tử. Thật ra một số người
không có cơ hội sống đến già. Một số
người rất ít khi bị bệnh. Song tất cả
mọi người đều phải chết một
ngày nào đó, không có ngoại lệ khác hơn.
Những lời tŕnh bày của Xa Nặc gây ấn tượng
sâu đậm trong tâm thái tử. Chàng nói: “Có nghĩa là một
ngày nào đó, vợ ta, con ta, những bạn bè của ta
và cả bản thân ta cũng sẽ phải chết? Và tất
cả những người hiện diện nơi đây
với áo quần đẹp đẽ và rất hănh diện
như thế này cũng sẽ chết ư? Ồ, thật
là mù quáng thay, cả thế giới vẫn cứ mải
mê ca múa, quay cuồng theo dục vọng trong khi cái chết
đang đến gần họ! Tại sao họ lại
cứ se sua lo chuyện chưng diện áo quần cho tốt
mà không biết một ngày nào đó họ chỉ c̣n phủ
lên ḿnh một tấm vải trắng thô sơ? Phải
chăng họ chỉ nhớ những thứ thiển cận
mà quên đi sự chết? Hay trái tim của họ quá chai
đá đến nỗi ư nghĩ về sự chết
không làm họ lo sợ? Xa Nặc, hăy quay xe lại. Ta muốn
trở về cung điện”.
Xa Nặc đánh xe ngựa trở về khu vườn
xinh đẹp. Nơi đó những ca sĩ và vũ công
đẹp nhất cung điện đang chờ đợi
cùng với các nhạc công, các quan và một bàn tiệc thịnh
soạn được chuẩn bị bởi các đầu
bếp của hoàng gia. Họ đón chào thái tử một
cách nồng nhiệt khi thái tử từ trên xe ngựa
bước xuống. Thế nhưng thái tử không thiết
ǵ cả. Tư tưởng của chàng hoàn toàn bị thu
hút bởi những ǵ đă xảy ra mà chàng chứng kiến
khi năy.
Mọi người cố gắng hết sức để
làm vui ḷng thái tử. Những vũ công xinh đẹp vui
đùa với thái tử, hy vọng làm cho gương mặt
đẹp trai buồn rầu của chàng vui tươi
trở lại, nhưng thái tử không hề quan tâm đến
họ. Trong tâm trí của chàng lúc này là h́nh ảnh già, bệnh,
chết đang chiếm ngự.
Một trong những vị quan thấy thái tử không vui
bèn đến động viên chàng. Với lối nói vui
đùa của một người bạn, ông nói: “Thật
không phải tí nào khi thái tử lại lơ là với những
vũ công đáng yêu này và từ chối cuộc vui với
họ. Bạn ơi! Bạn c̣n trẻ đẹp và khỏe
mạnh, cứ vui hưởng sự sống đi. Có việc
ǵ đâu? Bộ những cô gái này không đáng yêu đối
với bạn sao?”
Với giọng nói cương nghị thái tử trả
lời: “Ngài đă hiểu lầm tôi rồi. Chẳng phải
tôi không thích những người và những thứ
đáng yêu mà tôi thấy nơi đây. Nhưng khi nghĩ
đến sắc đẹp của họ sẽ phai tàn,
mọi vật sẽ thay đổi nhanh chóng, khiến tôi
không thể t́m thấy niềm vui chân thật trong những
thứ ấy một tí nào cả.
Nếu không có già, bệnh và chết, khi ấy tôi mới
có thể t́m thấy nguồn vui lớn đối với
mọi vật. Thế nhưng, những thứ bất hạnh
ấy đang chờ đợi chúng ta trong tương
lai. Làm sao tôi có thể hài ḷng với những thứ vui
chóng tàn như thế?
Ngài ắt hẳn phải có một trái tim nồng nhiệt
hơn tôi nên mới hài ḷng một cách dễ dàng như vậy.
Nhưng đối với tôi mọi thứ mà tôi thấy
đang bốc cháy bởi khổ đau. Chừng nào tôi
chưa t́m ra con đường thoát khỏi những nỗi
khổ ấy, th́ những thú vui của thế gian này
không lôi cuốn được tôi”.
V́ không thể nào làm cho tâm trạng của thái tử vui
tươi được, mọi người chán nản
trở về hoàng cung. Khi các quan tâu lên đức vua về
t́nh trạng thái tử không được vui v́ bị những
cảnh bên ngoài tác động, nhà vua quá rầu buồn,
đến nỗi không thể ngủ được. Ngài
nghĩ: “Ôi! Con trai yêu quư của ta, làm thế nào ta có thể
giữ được con ở lại vương quốc?
Ta phải làm ǵ để con hài ḷng mà ở lại
đây?”. Những ư nghĩ lo sợ đứa con trai yêu
quư của ḿnh sẽ từ bỏ hoàng cung, khiến nhà vua
tuyệt vọng trằn trọc cả đêm.
Thái tử Tất Đạt Đa ngày càng ch́m sâu
vào những suy tư về cuộc đời. Chàng dường
như không c̣n quan tâm đến một thứ ǵ. Chàng cũng
không thiết đến ăn uống, sức khỏe bắt
đầu kém đi và nước da trở nên xanh xao. Vua
và mọi người rất lo ngại về những
thay đổi không tốt này sẽ ảnh hưởng
đến tính mạng của thái tử.
Một hôm thái tử đến gặp vua và thưa:
“Thưa cha, gần đây tâm con không được an, xin
phép cha cho con được đi dạo một lần nữa.
Hy vọng sự thay đổi cảnh quan lần này sẽ
làm con an vui hơn”.
Vua đồng ư ngay lời thỉnh cầu của con trai
ḿnh. Lần này ông sẽ làm mọi thứ để thái tử
được hài ḷng và vui tươi trở lại. Vua
ngầm sai các quan theo sát và để ư thái tử.
Thái tử cùng với Xa Nặc và các quan đồng ra cửa
thành phía Bắc du ngoạn. Trong lúc dạo cảnh, các quan
đă cố gắng kể những câu chuyện vui để
cho thái tử quên hết những ưu tư, nhưng thái
tử cũng chẳng quan tâm ǵ đến những lời
tán gẫu của họ. Một lúc sau, thái tử nh́n thấy
một người râu tóc cạo sạch, choàng trên ḿnh chiếc
áo vá nhiều mảnh, tay ôm b́nh bát, mắt nh́n thẳng mà
đi, h́nh dạng rất đoan chính, oai nghi đĩnh
đạc khả kính. Thái tử liền hỏi Xa Nặc:
– Người đó là ai mà tướng mạo và mặc
áo khác người như vậy?
Xa Nặc đáp: Thưa thái tử, vị này là người
xuất gia tu hành, đă thoát ly đời sống thế
tục.
Nghe Xa Nặc nói, thái tử lấy làm lạ, xuống xe
đến chào vị tu sĩ và hỏi:
– Thưa ngài, v́ sao ngài lại xuất gia tu hành?
– Thưa thái tử, tôi đă giác ngộ được sự
vô thường giả tạm của cuộc sống, mạng
người rất mong manh sớm c̣n tối mất, một
hơi thở ra không trở lại đă ra người
thiên cổ. Tôi không muốn để cho những thứ
tiền tài, sắc đẹp, danh thơm, ăn ngon, ngủ
kỹ làm cho ḿnh phải đau khổ, sa đọa vào
ṿng tội lỗi. Tôi muốn thoát ra khỏi những ràng
buộc của t́nh ái trầm luân, của những dục
vọng thấp hèn, của đời sống gia đ́nh
ràng buộc, để được tự do như cánh
chim bay liệng trên bầu trời bao la vô tận. V́ muốn
thoát khỏi nỗi khổ già, bệnh, chết trong ṿng
luân hồi sinh tử miên viễn; v́ muốn hy sinh thân ḿnh
để t́m chân lư cứu độ chúng sinh thoát khỏi
vô minh đau khổ, nên tôi phát nguyện xuất gia t́m
đạo. Mục đích duy nhất của tôi hiện nay
là t́m cho ra hạnh phúc hoàn hảo nhất và cao thượng
nhất. Cho nên xuất gia phải là bậc đại
nhân, đại trí, đại hùng, đại lực,
đại từ bi mới có thể thực hiện
được.
Thái tử nghe xong rất vui mừng v́ đă gặp
được người mở con đường sáng
cho ḿnh đi. Những lời lẽ của vị Sa môn
nói rất đúng. Thái tử nghĩ: “Cuối cùng ta cũng
đă t́m ra ư nghĩa thật của cuộc đời.
Ta cũng sẽ từ bỏ gia đ́nh, bắt đầu
cuộc hành tŕnh t́m hạnh phúc chân thật để chấm
dứt tất cả khổ đau cho ḿnh và cho người”.
Với ư chí kiên cường và trái tim tràn đầy t́nh
thương, thái tử bảo Xa Nặc quay xe trở về
hoàng cung.
Về tới cung điện, thái tử liền đi
ngay vào pḥng của vua. Chàng nắm chặt hai bàn tay lại
– theo phong tục tập quán khi thỉnh cầu một việc
quan trọng – và thưa: “Thưa cha, con muốn trở nên
người lang thang vô gia cư để t́m ra con
đường chấm dứt khổ đau. Xin cha cho
phép con được rời khỏi cung điện này”.
Từ khi thái tử c̣n là đứa trẻ, vua đă lo sợ
một ngày nào đó ḿnh sẽ phải nghe những lời
thỉnh cầu đáng ghét này. Song, những lo sợ ghê gớm
ấy đă thành sự thật. Vua nghẹn ngào rơi lệ
trả lời: “Con trai yêu quư của cha, hăy quên tư
tưởng này đi. Con hăy c̣n quá trẻ, không đủ
sức để sống đơn độc như những
đạo sĩ. Đợi đến khi tuổi già hăy
đi cũng không muộn. Lúc này con phải ở lại
Ca Tỳ La Vệ để cai trị vương quốc
thay cha”.
“Dạ thưa cha, con sẽ ở lại nếu cha hứa
với con bốn điều sau đây: Làm sao cho con trẻ
măi không già; làm sao cho con khỏe măi không bệnh; làm sao cho
con sống măi không chết và làm sao cho con hết khổ
đau. Nếu như cha không hứa giúp được
con những điều này th́ con phải ra đi t́m câu giải
đáp”.
Vua bị lúng túng bởi những câu hỏi quái lạ này
và ngài bắt đầu gay gắt với thái tử: “Hăy
bỏ ngay những ư nghĩ ngu xuẩn này đi, Tất Đạt
Đa”.
Nhưng thái tử vẫn kiên quyết: “Thưa cha, nếu
cha không thể cứu con thoát khỏi những nỗi lo
già, bệnh, chết và khổ đau, th́ xin cha cho con
đi để con t́m đường tự cứu lấy
ḿnh. Không nên giữ con như một tù nhân ở đây”.
Vua không thèm nghe nữa. “Không để cho thái tử rời
khỏi nơi đây. Hăy canh gác cung điện cẩn thận!”.
Vua ra lệnh cho các quan xong, buồn rầu bỏ ra khỏi
pḥng.
Tất Đạt Đa rời khỏi pḥng vua cha và trở về
cung điện của ḿnh. Chàng đi ngang qua những
căn pḥng trang hoàng lộng lẫy, những hành lang tráng
lệ, những ḍng suối lấp lánh rồi về
đến pḥng của ḿnh. Chàng đi giữa những nhạc
công tài ba và những nàng hầu xinh đẹp đang biểu
diễn, nhưng những thú vui này không c̣n thu hút thái tử.
Lúc này chàng chỉ có một ư nghĩ trong đầu là rời
khỏi cung điện đi t́m chân lư.
Đêm đó, sau bữa ăn tối, các nhạc công, vũ nữ
và lính canh đều mệt mỏi say ngủ. Ngay cả
Da Du Đà La cùng người con trai La Hầu La cũng say
sưa trong giấc nồng. Thái tử nh́n vợ con và nghĩ:
Ta muốn ôm đứa con trai vào ḷng một lần cuối
trước khi rời khỏi cung điện, nhưng e
rằng sẽ đánh thức Da Du Đà La và sẽ rất
khó cho việc ra đi của ta. Thôi ta phải rời khỏi
nơi đây gấp và thật im lặng trước khi
mọi người thức giấc.
Thái tử bước nhẹ nhàng cẩn thận qua những
người đang nằm ngủ, đi đến cửa
sổ và trèo ra bên ngoài. Chàng đi tới chỗ Xa Nặc,
người giữ ngựa đang nằm ngủ và khẽ
đánh thức anh ta dậy: “Hăy sửa soạn ngựa
cho ta nhanh đi Xa Nặc. Ta muốn đi ngay đêm nay”.

Xa Nặc rất ngạc nhiên không biết thái tử
đi đâu vào lúc giữa đêm như thế này,
nhưng không dám hỏi. Xa Nặc liền sửa soạn
con ngựa Kiền Trắc và dắt nó đến chỗ
thái tử. Tất Đạt Đa vuốt ve con ngựa và th́ thầm
với nó: “Kiền Trắc, người bạn thân yêu của
ta, chúng ta phải rất yên lặng. Ta không muốn
đánh thức những người canh gác. Đêm nay là một
đêm rất đặc biệt”.
Thái tử và Xa Nặc rời khỏi cung điện. Họ
lặng yên phóng ngựa đi trong đêm tối. Đến
ranh giới của thành phố, thái tử nh́n lại và phát
nguyện: “Nếu ta không chinh phục được tất
cả khổ đau, ta sẽ không trở lại thành phố
Ca Tỳ La Vệ xinh đẹp này”.
Họ cưỡi ngựa suốt đêm. Khi mặt trời
vừa mọc, họ đă tới cánh rừng yên tĩnh,
nơi có rất nhiều đạo sĩ ẩn tu. Thái tử
rất sung sướng và nghĩ: “Bây giờ cuộc t́m
đạo của ta bắt đầu”. Rồi chàng quay
qua Xa Nặc nói: “Xa Nặc, ta rất cám ơn sự giúp
đỡ của bạn. Ta đă tới nơi mà ta mong
muốn. Bây giờ là lúc bạn và con ngựa trở về
cung điện được rồi”.
Xa Nặc không thể tin là thái tử sẽ không trở về
cung điện với ḿnh. Anh ta đứng lưỡng
lự nơi đó, nước mắt bắt đầu
chảy ra hai khóe mắt. Thái tử hiểu được
nỗi buồn của Xa Nặc và an ủi anh ta: “Xa Nặc
yêu quư của ta, đừng khóc nữa. Trước sau ǵ
chúng ta cũng phải chia tay nhau. Hăy cầm những báu vật
này mà ta đang đeo, ta không cần đến chúng nữa.
Hăy trở lại hoàng cung và nói với cha ta rằng, ta ra
đi không phải v́ buồn giận, cũng không phải
là ta không yêu thương gia đ́nh. Thực ra v́ ta
thương yêu họ rất nhiều nên ta mới phải
từ bỏ họ để ra đi như vầy. Nếu
ta khám phá ra được con đường chấm dứt
tất cả khổ đau, ta sẽ trở lại giúp họ.
Nếu ta thất bại th́ chẳng khác ǵ ta từ biệt
luôn. Sớm hay muộn ǵ cái chết cũng sẽ đến
với chúng ta bằng mọi cách. Hăy để ta bắt
đầu cuộc hành tŕnh t́m chân lư”.


15. Cuộc t́m đạo bắt đầu
Khi Tất Đạt Đa đứng một ḿnh trong cánh rừng
bắt đầu cuộc t́m đạo vĩ đại,
chàng nghĩ: “Kể từ hôm nay ta không c̣n là thái tử nữa.
V́ thế ta không thể trang phục như người thế
tục ...”. Sau đó, chàng gặp một người thợ
săn nghèo và nói với ông ta rằng: “Thưa ông, tôi không
cần những đồ tơ lụa quư giá này. Nếu
tôi sống trong rừng, tôi sẽ mặc những thứ
vải thô giống như ông. Vậy chúng ta hăy trao đổi
lẫn nhau”. Người thợ săn rất ngạc
nhiên và rất vui sướng được trao đổi
những y phục đắt tiền như thế và
nhanh chóng chấp nhận lời đề nghị của
Tất Đạt Đa.
Bây giờ chàng đă hoàn toàn ăn mặc như người
đạo sĩ bần hàn thật sự. Tất Đạt
Đa bắt đầu t́m thầy chỉ dạy cho chàng con
đường chấm dứt mọi khổ đau.
Chàng đi vào rừng sâu và thưa hỏi tất cả
các đạo sĩ mà chàng gặp. Nơi chàng đi qua
đều được mọi người tiếp
đón kính trọng. Cho dù bây giờ chàng mặc đồ
rách rưới và chỉ ăn chút ít thức ăn xin
được, nhưng tướng mạo của chàng
trông vẫn rất đẹp trai và nổi bật. Khi những
người ở trong rừng thấy chàng đến, họ
đều nói với nhau: “Trông ông ta rất đặc biệt.
Trên gương mặt ông biểu hiện nghị lực
kiên cường. Nếu ông ta đi t́m chân lư, chắc chắn
sẽ đạt được ư nguyện”.
Tất Đạt Đa t́m học với một vài vị thầy,
nhưng chàng không hài ḷng với những ǵ họ chỉ dạy.
Chàng nghĩ: Những thứ họ dạy đều có
ích, nhưng không đưa đến an lạc tuyệt
đối. Sau cùng, chàng nghe có một vài đạo sĩ
rất thông thái hiện đang sống ở vương
quốc Ma Kiệt Đà (Magadha) nơi mà vua Tần Bà Sa La
(Bimbisara) cai trị. V́ thế chàng quyết định
đi đến đó để t́m họ.
Một hôm, chàng đang đi bộ ngang qua thành
Vương Xá (Rajagriha), thủ đô của Ma Kiệt Đà,
chàng đến gần cổng của cung điện. Một
trong những vị quan của nhà vua nh́n thấy chàng và vội
về báo tin cho vua biết.
Ông ta nói một cách vui mừng: “Tâu bệ hạ, hạ thần
vừa nh́n thấy một người đàn ông rất
tuyệt vời trong thành phố. Ông ta mặc đồ
rách rưới và xin thức ăn từ nhà này đến
nhà khác, nhưng hạ thần tin chắc ông ta là một
người đặc biệt. Gương mặt ông ta
đầy nghị lực và dáng đi rất oai nghiêm.
Dường như có một thứ ánh sáng kỳ diệu
tỏa ra từ thân thể ông ta”.
Vua nghe xong rất vui mừng và cho mời Tất Đạt
Đa vào cung điện. Họ nói chuyện với nhau một
lúc và vua rất khâm phục trí thông minh, tính khiêm tốn và
ḷng tử tế của chàng. Vua nói: “Tôi chưa gặp một
người nào mà tôi cảm thấy mến mộ tin yêu
như Ngài. Xin Ngài ở lại Vương Xá và giúp tôi cai
trị vương quốc này”.
Tất Đạt Đa trả lời một cách lịch sự:
“Tâu bệ hạ, tôi đă có cơ hội để cai trị
một vương quốc rồi, nhưng tôi đă từ
bỏ. Tôi không quan tâm đến sự giàu sang và quyền
lực, chỉ muốn t́m chân lư. Xin cám ơn ân huệ của
ngài, tôi đến đây chỉ để t́m thầy học
đạo”.
Khi ấy vua cúi chào người đàn ông rách rưới
và nói: “Xin chúc may mắn trên con đường t́m đạo
của Ngài. Nếu sau này Ngài t́m ra chân lư, xin hăy trở lại
chỉ dạy cho tôi. Nhưng nếu Ngài thất bại
tôi vẫn sẵn sàng đón nhận Ngài về
vương quốc của tôi”.
Tất Đạt Đa cám ơn ḷng tốt của vua và rời
khỏi cung điện tiếp tục con đường
tầm sư học đạo của ḿnh.
16. Sáu năm chiến đấu
Cuối cùng Tất Đạt Đa đă đến khu rừng
nơi mà các đạo sĩ thông thái đang sống. Đầu
tiên Ngài học với Arada và Udraka. Chỉ trong một thời
gian ngắn, Ngài quán triệt những ǵ mà họ đă dạy,
nhưng Ngài vẫn không hài ḷng, Ngài tự nhủ: “Những
vị thầy của ta là bậc cao quư, song những lời
mà họ dạy ta không đem lại sự chấm dứt
tất cả khổ đau. Ta phải tự ḿnh tiếp
tục t́m kiếm”.
Ngài tiếp tục cuộc hành tŕnh của ḿnh và đi
đến con sông Nairangang, gần đất thánh Gaya. Ngài
vượt qua con sông và vào khu rừng của bờ bên
kia. Tại đây, Ngài gặp một nhóm năm người.
Đời sống của họ hết sức đơn giản.
Họ ăn rất ít, sống ở ngoài trời và ngồi
im lặng nhiều giờ mỗi ngày.
Tất Đạt Đa hỏi họ: “Tại sao các vị lại
hành hạ xác thân như thế?”
Họ trả lời: “Đa phần người ta sống
trên cuộc đời này đều dung dưỡng xác
thân, song vẫn phải chịu nhiều khổ đau,
chúng tôi nghĩ rằng, nếu ḿnh có thể chịu đựng
được sự đau khổ của thân xác, th́ sẽ
t́m ra được phương pháp làm chủ tất cả
khổ đau”.
Tất Đạt Đa tự nghĩ: “Đă nhiều năm qua ta sống
trong cung điện hưởng mọi thứ sung sướng.
Ta được đối xử rất tử tế,
nhưng trong tâm vẫn không được an lạc. Có lẽ
những người này nói đúng. Ta sẽ nhập môn với
họ để thực hành khổ hạnh xem có thể
đưa đến sự chấm dứt khổ đau
không”.
Từ đó, Ngài bắt đầu thực hành khổ hạnh
như những vị này. Ngài ngồi từ giờ này
đến giờ khác cùng một chỗ, cho dù hai chân và
lưng đau đớn vô cùng, Ngài cũng không động
đậy. Ngài chịu đựng cái nắng nóng cháy của
mùa Hè; rồi đến những cơn gió lạnh buốt
của mùa Đông. Ngài chỉ ăn một ít thức ăn
đủ để cầm hơi tu tập. Ngài tự
nghĩ: “Ta phải tiếp tục khổ hạnh và quyết
tâm khám phá con đường thoát khỏi tất cả khổ
đau”.
Năm đạo sĩ rất kinh ngạc về cách tu của
Tất Đạt Đa. Họ nói với nhau: “Chúng ta chưa thấy
một người nào có sự quyết tâm như ông này.
Ông ta kiềm chế thân ḿnh không một chút lơ là. Nếu
một người nào đó thành công trong sự thực
hành phương pháp khổ hạnh này th́ người
đó chính là Tất Đạt Đa. Chúng ta hăy ở gần bên
ông ta để khi ông ta khám phá ra chân lư chúng ta sẽ
được học hỏi với ông”.
Tất Đạt Đa hành xác ngày càng khắc nghiệt hơn. Từ
lúc bắt đầu khổ hạnh, Ngài chỉ ngủ
vài giờ mỗi đêm, rồi cuối cùng Ngài thức
suốt không ngủ. Ngài cũng không ăn một bữa
ăn nào mà chỉ dùng một vài thứ hạt hoặc
trái cây do gió bay vào vạt áo của Ngài.
Thân h́nh Ngài ngày một gầy ốm tiều tụy. Thân
thể mất đi sự tươi nhuận và bao phủ
đầy bụi bẩn. Lúc này Ngài trông giống như một
bộ xương người c̣n sống. Nhưng Ngài vẫn
kiên tŕ không từ bỏ thực hành khổ hạnh.
Sáu năm trời trôi qua. Tất Đạt Đa rời khỏi
cung điện và từ bỏ những lạc thú lúc 29 tuổi.
Bây giờ Ngài đă 35 tuổi, trải qua 6 năm khổ
hạnh, ăn, mặc, ngủ đều thiếu kém. Một
hôm Ngài nghĩ: “Bây giờ ta đă đến gần mục
đích hơn sáu năm về trước chưa? Hay là
ta vẫn vô minh như trước? Khi c̣n là thái tử ta
đă sống trong sự xa hoa và tận hưởng mọi
lạc thú của cuộc đời. Ta đă lăng phí nhiều
năm trong ngục tù dục lạc.
Khi ta từ bỏ hoàng cung bắt đầu tầm đạo,
ta đă sống trong rừng, hang động và không có một
thứ ǵ khác ngoài những bữa ăn đơn sơ
và khổ hạnh thân thể. Thế nhưng cho đến
nay ta vẫn chưa t́m ra con đường chấm dứt
khổ đau. Bây giờ ta mới hiểu ra rằng, thật
sai lầm khi hành hạ thân xác như thế này. Nó cũng
giống như sự sai lầm lăng phí nhiều năm
trong dục lạc nơi cung điện trước
đây. Muốn t́m ra chân lư ta phải đi theo con
đường trung đạo, không nên hưởng thụ
quá và cũng không nên khổ hạnh ép xác quá”.
Ngài nhớ lại nhiều năm về trước. Sau
khi nh́n thấy người chết, Ngài đă thiền
định ở dưới cây Gioi. Ngài nghĩ: “Sau lúc
thiền định ấy, tâm trí ta rất thanh tịnh.
Ta có thể nhận định sự vật một cách
rơ ràng. Bây giờ ta cố gắng tập trung ư chí như
vậy một lần nữa xem sao”.
Nhưng khi Ngài nh́n lại thân thể của ḿnh, Ngài nghĩ:
“Ta ngồi đây đă lâu mà không ăn v́ thế thân thể
đă mệt nhọc, dơ bẩn và ốm yếu. Ta ốm
quá đến nỗi nh́n thấy cả xương xuyên qua
làn da. Làm thế nào ta có thể thiền định khi
thân thể quá đói và dơ bẩn?”.
Ngài cố gượng dậy và đi đến bên bờ
sông để tắm. Tuy thế Ngài quá yếu đến
nỗi té xuống sông và có nguy cơ bị chết đuối.
Ngài cố gắng hết sức ḿnh bám lấy bờ
đất lần ṃ lên bờ. Lên được tới
bờ, Ngài ngồi nghỉ và thở một lát.
17. Cúng dường
Trong một ngôi làng nhỏ ở b́a rừng có một gia
đ́nh chăn nuôi và có người vợ tên là Sujata. Cô mới
sinh được đứa con đầu ḷng nên rất
sung sướng. Cô vắt sữa tốt nhất từ
những con ḅ của chồng ḿnh và chuẩn bị cho một
bữa ăn ngon từ nguồn sữa này. Bấy giờ
cô đang đem thức ăn này vào trong rừng để
dâng cúng cho thần linh mà cô tin tưởng đang ngự
trị ở đó. Cô thường cầu nguyện những
vị thần linh này và tỏ ḷng biết ơn các vị
thần đă giúp cô sinh được một người
con trai mạnh khỏe.
Cô đi vào rừng và gặp Tất Đạt Đa đang ngồi
ở đó. Thân thể của Ngài ốm yếu, nhưng
gương mặt vẫn sáng sủa và đẹp trai.
Sujata nh́n Ngài và rất ngạc nhiên, cô nghĩ: Từ
trước tới giờ ta chưa nh́n thấy ai giống
như người này. Có lẽ đây là vua của các vị
thần linh. Rồi cô đem thức ăn đă chuẩn
bị đặc biệt đặt ở phía trước
Ngài.
Tất Đạt Đa từ từ mở mắt ra và thấy
tô sữa ở trước mặt ḿnh. Ngài mỉm cười
tỏ ḷng biết ơn đối với Sujata và nhấc
tô sữa lên miệng uống. Ngài uống tới đâu cảm
thấy thân ḿnh tươi nhuận đến đó. Uống
xong, Ngài đặt tô xuống và cám ơn nàng: “Có lẽ cô
nghĩ tôi là một vị thần linh, nhưng tôi chỉ
là một người đi t́m chân lư mà thôi. Phẩm vật
cúng dường của cô đă giúp cho thân thể của
tôi khỏe mạnh trở lại. Bây giờ tôi tin chắc
rằng tôi sẽ t́m ra chân lư. Cầu chúc cho cô gặt hái
được nhiều quả tốt về việc cúng
dường hôm nay. Xin cám ơn cô”.
Năm người sống trong khu rừng với Tất
Đạt Đa thấy Ngài nhận phẩm vật cúng dường
của Sujata, họ rất thất vọng và nói với
nhau: “Tất Đạt Đa đă từ bỏ sự tầm
đạo. Ông ta không đi theo con đường của
bậc Thánh nữa. Ông ta đă tắm rửa và dùng thức
ăn ngon trở lại. Làm sao chúng ta có thể ở lại
đây với ông ta được nữa? Chúng ta hăy rời
khỏi khu rừng này và đi đến Ba La Nại
(Banares). Chúng ta sẽ tiếp tục thực hành khổ hạnh
trong khu vườn Lộc Uyển gần đấy”.
Họ từ bỏ ra đi và nghĩ rằng Tất Đạt
Đa đă không c̣n chú ư đến việc khám phá chân lư nữa.
Thế nhưng sau khi dùng sữa, thân thể khỏe mạnh
trở lại, Tất Đạt Đa chuẩn bị thiền
định và quyết t́m ra chân lư mà Ngài đă dầy công
mấy năm qua. Ngài đứng dậy, lội qua con
sông và hướng về phía trước.
18. Cuộc chiến đấu vĩ đại
Giây phút mà thế giới mong đợi bây giờ đă
đến. Tất Đạt Đa, người đă từ bỏ
vương quốc để t́m chân lư, đang tiến tới
một gốc cây. Trên đường đi, Ngài đi
ngang qua một người đang mang mớ cỏ
tươi mới cắt và Ngài đă xin ông một mớ.
Ngài sẽ dùng mớ cỏ này để ngồi thiền.
Khi Ngài đến gần cây bồ đề th́ bầu
không khí lúc này trở nên yên tĩnh hơn. Và cả thế
giới dường như đang nín thở hồi hộp
chờ đợi những điều sắp xảy ra.
Những cành cây lay động như chào đón Ngài. Ngài từ
từ ngồi xuống dưới tàn cây.
Tất Đạt Đa cẩn thận xếp mớ cỏ thành
tấm nệm nhỏ và ngồi xuống, mặt quay về
hướng Đông. Ngài xếp tréo chân theo tư thế thiền
định vững chắc và đặt hai bàn tay trên ḷng
hai bàn chân. Rồi Ngài cương quyết phát nguyện:
“Nếu ta không đạt được đạo quả,
cho dù phải bỏ mạng tại đây, ta cũng sẽ
không rời khỏi nơi này”. Lúc ấy, chư thiên trên
hư không rất vui mừng khi nghe lời nguyện lớn
của Tất Đạt Đa. Đó là ngày trăng tṛn tháng tư
lúc mặt trời sắp lặn.
Thế nhưng truyền thuyết cho rằng, không phải
ai cũng hoan hỷ lúc nghe Ngài phát nguyện lớn. Có một
thế lực gọi là Mara th́ lại hoảng sợ và
giận dữ. Mara là tên gọi mà người Ấn Độ
cổ cho là sức mạnh của tội lỗi, nó quấy
phá tâm trí của chúng ta. Mara là tính tham lam, giận hờn,
ngu si, ganh tỵ, nghi ngờ của chúng ta và bao gồm cả
những độc tố khác đem đến cho người
ta sự bất hạnh và đau khổ.
Khi Mara thấy Tất Đạt Đa ngồi ở dưới
cây bồ đề, nó giận điên lên. Nó bèn gọi
đám con trai, con gái của nó đến và lớn tiếng:
“Hăy nh́n ḱa, thái tử Tất Đạt Đa đang ngồi thiền
định. Nếu ông ta thành công và khám phá ra con đường
chấm dứt mọi khổ đau, th́ cái ǵ sẽ xảy
đến với chúng ta? Các con không hiểu rằng lúc
đó chúng ta sẽ mất đi sức mạnh ư,
chúng ta sẽ không thể làm hại người ta nếu
ông ta dạy cho họ chân lư. Chúng ta phải khuấy phá sự
thiền định của ông ta, hay là chúng ta chịu
đầu hàng thất bại”.
Và thế là Mara đem tất cả sức mạnh tội
lỗi của hắn cố gắng t́m mọi cách để
quấy phá Tất Đạt Đa. Chúng gây ra một trận băo
khủng khiếp và phóng những tia sấm sét xuống
quanh Ngài. Chúng tạo ra cơn gió mạnh đến nỗi
mọi thứ chung quanh Ngài hư hại nặng nề.
Thế nhưng bên dưới những nhánh cây, mọi thứ
vẫn yên lặng, nó được che chở bởi
năng lực thiền định của Tất Đạt
Đa.
Mara thấy rằng trận băo vừa qua đă không đạt
kết quả, hắn quay sang lũ đệ tử và la
lên: “Tấn công!”. Toàn thể lũ yêu ma độc ác quay
lại tấn công Tất Đạt Đa. Chúng chạy đến
chỗ Ngài la hét dữ dội. Chúng bắn những mũi
tên độc căm thù đến Ngài. Song, khi những mũi
tên này bay tới chỗ Tất Đạt Đa, chúng lại biến
thành những cánh hoa sen và rơi xuống vô hại cạnh
bên chân Ngài. Không có cách nào quấy phá được sự
yên tĩnh thiền định của Ngài.
Mara nghĩ: “Nếu những vũ khí này và bóng ma sợ
hăi không làm rối loạn thiền định ông ta th́ sắc
đẹp có thể quấy nhiễu được tâm
trí ông ta”. Lúc đó tất cả lũ yêu ma biến thành
những cô gái đẹp nhất và rất quyến rũ.
Những cô gái hấp dẫn này khiêu vũ phía trước
Ngài, nhưng cũng không ảnh hưởng ǵ đến
sự thiền định của Ngài. Chúng gợi lại
những cung điện như ư, cảnh vợ con, thiên
nhạc, thức ăn ngon mà Ngài đă hưởng trước
đây. Nhưng không một thứ nào có thể phá hoại
sự tập trung thiền định của người
đi t́m chân lư.
Mara cảm thấy thất bại. Hắn cố gắng
xuất một chiêu cuối cùng. Sau khi giải tán bộ hạ
của ḿnh, hắn xuất hiện một ḿnh trước
Tất Đạt Đa. Hắn nói với Ngài bằng một giọng
chế giễu: “Ông là thái tử Tất Đạt Đa vĩ
đại à? Ông nghĩ ông là người tu thiền vĩ
đại ư? Rất nhiều vĩ nhân đă thất
bại khi đi t́m chân lư, nhưng ông lại nghĩ rằng
ḿnh sẽ thành công ư?
Thật là ngu xuẩn làm sao! Ông không biết rằng cần
phải có một sự chuẩn bị cho việc t́m kiếm
chân lư sao? Ông đă làm được ǵ để xứng
đáng cho việc thành công? Trước hết ông đă
lăng phí mất 29 năm nuông chiều bản thân. Rồi lại
lăng phí 6 năm đói khát hành hạ xác thân. Bây giờ ông
ngồi đây, nghĩ rằng trí huệ sẽ đến
với ông. Thật ngu xuẩn làm sao! Hăy từ bỏ việc
thiền định này đi, hoặc ít nhất ông cũng
chỉ cho tôi biết ai là nhân chứng cho lời thề của
ông sẽ được thành công, trong khi tất cả mọi
người đều thất bại”.
Những lời khinh bỉ này không đủ tác dụng
làm phiền Tất Đạt Đa. Ngài im lặng nhấc tay phải
khỏi ḷng bàn chân, đưa ra phía trước và đụng
xuống đất. Vâng, chính mặt đất này là nhân
chứng của Tất Đạt Đa. Đă vô số kiếp Ngài
xuất hiện trên mặt đất này với nhiều
h́nh dạng khác nhau. Ngài đă thực tập ḷng khoan dung
và tính kiên nhẫn. Ngài đă thực hành yêu thương và
tránh làm hại kẻ khác. Ngài đă tập trung cho việc
t́m chân lư. Ngài đă làm tất cả những việc này.
Khi th́ là người nam, khi th́ là người nữ, khi là
người giàu, khi là kẻ nghèo – đă nhiều kiếp
qua, Ngài làm những việc này chỉ v́ mục đích
khám phá ra con đường chấm dứt tất cả
khổ đau và chính trái đất này là nhân chứng của
Ngài.
Mara thật sự biết ḿnh thất bại và biến mất
như một cơn ác mộng. Tất Đạt Đa hoàn toàn
thảnh thơi một ḿnh. Những đám mây đen tách
ra và mặt trăng chiếu sáng trên bầu trời. Không
khí tỏa mùi thơm d́u dịu và ánh sáng lấp lánh trên
đầu ngọn cỏ. Mọi thứ đă sẵn
sàng!
19. Thức tỉnh
Tâm trí của Tất Đạt Đa yên lặng và êm dịu. Sự
tập trung của Ngài càng sâu thêm và tâm trí càng sáng hơn.
Nhờ trí tuệ bừng sáng, Ngài đă nh́n thấy những
kiếp quá khứ. Ngài thấy rằng khi một đời
sống này chấm dứt th́ đời sống khác bắt
đầu. Chết chỉ là một sự chấm dứt
của thể xác, đời sống lại tiếp tục
t́m kiếm một thân xác mới và cứ tiếp diễn
măi như vậy.
Ngài thấy rằng khi một người làm điều
tội lỗi trong một đời – như làm hại
người khác – người đó sẽ chịu đựng
những đau khổ trong tương lai. Nhưng khi một
người làm những điều thiện với tâm từ
th́ hạnh phúc và niềm vui cũng theo liền với họ.
Những hành động mà người ta tạo ra không bị
mất, nó sẽ theo họ từ đời này tới
đời khác, tùy theo hành động tốt hay xấu,
mà họ có được hạnh phúc hay phải chịu
đau khổ.
Khi Ngài khám phá ra tất cả đời sống liên kết
nhân quả mật thiết với nhau như vậy, chân
lư đă xuất hiện trong tâm trí của Ngài. Mặt trời,
những hành tinh, tất cả các ngôi sao và những thiên
hà của vũ trụ, tất cả xuất hiện trong
thiền định của Ngài. Ngài thấy rằng mọi
thứ, từ hạt bụi nhỏ nhất đến
ngôi sao lớn nhất đều liên kết với nhau. Mọi
vật th́ luôn luôn thay đổi: Thành, hoại và thành, cứ
tiếp tục như thế. Không một việc ǵ xảy
ra mà không có nguyên nhân.
Rồi Ngài thấy rơ tất cả những khổ
đau của cuộc đời. Ngài thấy rằng – từ
sinh vật nhỏ nhất đến ông vua vĩ đại
nhất – chạy theo lạc thú chỉ kết thúc với
những bất hạnh. Và Ngài cũng khám phá ra nguyên nhân của
tất cả những bất hạnh ấy. Ngài thấy
rằng người ta không thật sự hiểu rơ mọi
sự vật luôn luôn thay đổi. Do sự mù quáng này mà
họ đấu tranh, cướp bóc và giết hại
để thỏa măn những dục vọng của ḿnh,
nhưng những ham muốn này không bao giờ đem lại
hạnh phúc lâu dài cho họ. Họ cứ măi quanh quẩn
trong ṿng được mất, rồi lại t́m kiếm.
Ngài thấy rằng người ta chiến đấu chống
lại những thứ mà họ không thích. Cuộc đời
của họ tràn đầy những thù hận và phiền
năo. Và mỗi lần họ làm hại người khác, họ
sẽ đau khổ v́ hành động đó không sớm
th́ muộn. Họ trải qua đời này tới đời
khác tạo ra nhiều bất hạnh hơn cho chính họ.
Họ đang đi t́m an lạc, nhưng ngược lại,
lại đi t́m đau khổ.
Cuối cùng, Ngài đă khám phá ra con đường chấm
dứt tất cả những nỗi khổ này. Nếu một
người thấy được chân lư một cách rơ
ràng – như chính Ngài đă thấy được chân lư
đêm nay – tất cả sự bám víu lạc thú và khổ
đau sẽ dừng lại, sẽ không c̣n những tham
lam và sân hận trong tâm trí của họ nữa. Họ sẽ
không làm một việc ǵ có hại cho kẻ khác. Như vậy
họ sẽ không c̣n cảm thấy bất hạnh nữa.
Tất cả những sân hận đă chấm dứt,
trái tim của họ sẽ tràn đầy t́nh
thương. Và với t́nh thương này họ sẽ
đem lại an lạc và hạnh phúc cho muôn loài.
Khi Tất Đạt Đa thấu suốt mọi lẽ, bóng tối
vô minh tan mất trong tâm của Ngài. Thân h́nh tỏa ánh sáng
rực rỡ. Ngài không c̣n là một người thường
nữa. Ngài đă giác ngộ chân lư. Bây giờ Ngài là Phật.
Ngài đă đạt được mục đích giải
thoát.
Với nụ cười an lạc, Ngài nhẹ nhàng xả
thiền. Lúc ấy trời đă sáng, mặt trời vừa
mới mọc ở phương Đông.
|
20. Dạy đạo cho ai?
Toàn thể vũ trụ vui mừng về một buổi
sáng huy hoàng ấy. Những bông hoa tươi thắm bừng
nở khắp mọi nơi và tỏa hương
thơm ngào ngạt trong không khí. Những con chim hót líu lo
vui mừng và sinh vật khắp nơi quên đi tất
cả sợ hăi. Những cầu vồng và những
đám mây mầu sắc tuyệt đẹp xuất hiện
trên nền trời và mọi người rất ngạc
nhiên khi nh́n thấy cảnh quan kỳ diệu này.
Đức Phật tràn đầy hạnh phúc. Tâm của
Ngài không c̣n vô minh và đau khổ nữa, mà chỉ có một
niềm an lạc vô hạn. Trải qua những ngày và những
tuần Ngài ở bên cạnh cây Bồ đề chứng
nghiệm những hạnh phúc mà Ngài đă đạt
được.
Rồi Ngài nghĩ: Thật là rất khó khi ta đạt
đến chỗ chấm dứt khổ đau và trở
thành người giác ngộ. Ta phải nỗ lực
tinh tấn cả một thời gian dài. Trong khi mọi
người đang bị vô minh che lấp chân tính, không
biết ai sẽ là người có thể hiểu
được chân lư mà ta khám phá? Và ta sẽ chỉ dạy
họ bằng cách nào? Có lẽ tốt hơn hết ta cứ
sống an lạc một ḿnh trong những cánh rừng và
thưởng thức hạnh phúc của một người
đă giác ngộ.
Lúc ấy, Ngài nghe âm thanh trong thâm tâm của ḿnh rằng:
Xin đừng quên chúng tôi. Chúng tôi đă đau khổ
quá lâu rồi. Chúng tôi đă chờ đợi giờ
phút quan trọng này từ khi Ngài mới sinh và có thể
lâu hơn nữa. Chúng tôi hy vọng và cầu nguyện
Ngài sẽ từ bỏ đời sống thái tử và
khám phá con đường chấm dứt mọi khổ
đau.
Nhưng rồi một ư nghĩ khác lại khởi lên
trong tâm Đức Phật: Ai sẽ là người có thể
theo được lời dạy của ta truyền
trao? Ai sẽ là người đủ nghị lực và
dũng cảm? Ai sẽ là người đủ tinh tấn
và kiên nhẫn?
Rồi những âm thanh trong thâm tâm lại phát ra: Sự
thật th́ tâm trí chúng tôi đang bị đám mây vô minh
che phủ, thưa Ngài. Nhưng những người bị
vô minh như vầy cũng không đến nỗi dầy
đặc lắm. V́ thế xin Ngài hăy chỉ dạy cho
chúng tôi chân lư mà Ngài đă chứng ngộ.
Rồi Đức Phật mỉm cười và nói: Ồ, dĩ
nhiên ta sẽ chỉ dạy. Lư do duy nhất mà ta từ
bỏ đời sống thái tử là đi t́m chân lư
để giúp mọi người. Bây giờ ta đă thấu
rơ chân lư. Ta sẽ làm hết sức ḿnh để truyền
bá con đường chấm dứt khổ đau.
Song ngay cả một vị Phật cũng không thể
xóa bỏ khổ đau của người khác nếu họ
không cố gắng tự cứu lấy ḿnh. Ḿnh phải
tự cứu ḿnh trước khi nhờ đến bác sĩ
cứu chữa. Cũng vậy, họ phải muốn lắng
nghe những lời dạy về sự thật trước
khi người ta cứu giúp họ. Bất cứ ai
đến với ta bằng tâm hồn rộng mở muốn
t́m hiểu, ta sẵn sàng chỉ dạy họ bằng mọi
cách.
Rồi Ngài nghĩ: Ai trong số tất cả những
người trên thế gian này ta sẽ chỉ dạy
đầu tiên? Ai là người sẵn sàng tiếp thu
được? Ngài nhớ đến Arada và Udraka, hai vị
thầy mà Ngài đă gặp cách đây 6 năm. Họ sẽ
là người tốt nhất để truyền pháp,
nhưng hiện nay họ đă chết.
Rồi Ngài nghĩ đến năm người đă
tu khổ hạnh với Ngài một thời gian dài trong
rừng. Ngài nghĩ: Họ sẵn sàng hiểu được
chân lư. Ta sẽ đến dạy họ đầu tiên.
Ngài quan sát thấy rằng năm người này đang
ở vườn Nai gần Ba La Nại, thành phố linh
thiêng của Ấn Độ cổ. Đức Phật tuyên bố:
Ta sẽ đến đó và bắt đầu chuyển
pháp luân.
|
|
|
21. Lời dạy đầu tiên
Con đường đến Ba La Nại khá xa, Đức Phật
đi bộ thong thả xuyên qua những ngôi làng và nông trại.
Ai trông thấy Ngài cũng đều bị thu hút cả.
Ngài có tướng mạo cao lớn và đẹp đẽ,
dáng đi rất trang nghiêm và uyển chuyển. Chỉ
nh́n thấy Ngài thôi, người ta cũng cảm thấy
sự thanh tịnh và an lạc trong tâm hồn của ḿnh.
Ngài nói chuyện rất lịch sự và nhă nhặn với
mọi người khi tiếp xúc. Dù họ là người
giàu hay kẻ nghèo, b́nh thường hay thông minh, quư tộc
hay hạ tiện, Đức Phật đều đối xử
b́nh đẳng với một t́nh thương bao la và trân
trọng.
Ngài đă đến vườn Nai. Từ xa năm đạo
sĩ nh́n thấy Ngài đi đến, họ bèn nói nhỏ
với nhau: “Đó là Tất Đạt Đa vô tích sự. Chúng ta
không nên tiếp đón một người đă từ bỏ
lối tu khổ hạnh như thế. Hăy phớt lờ
đi nếu ông ta đến gần chúng ta”. Thế
nhưng khi Đức Phật đi đến, họ cảm
thấy có một cái ǵ rất đặc biệt toát ra từ
thân tướng oai nghiêm của Ngài. Họ quên cả kế
hoạch phớt lờ mà trái lại c̣n tự động
đứng lên hết khi Ngài đến gần. Với
ḷng thành kính vô hạn, họ vội vă chuẩn bị chỗ
ngồi, dâng khăn lấy nước cho Ngài và nói: “Hoan
nghênh Tất Đạt Đa đă đến vườn Nai.
Chúng tôi rất vinh dự khi bạn tiếp tục tu học
với chúng tôi”.
Đức Phật trả lời: “Tôi rất cám ơn ḷng tử
tế tiếp đón của các thầy. Song, xin quư thầy
hiểu cho, tôi hiện nay không c̣n là Tất Đạt Đa như
trước và cũng không nên gọi bằng danh xưng
đó nữa”.
Họ bèn hỏi lại: “Vậy chúng tôi sẽ gọi
Ngài bằng danh xưng ǵ?”.
Đức Phật trả lời: “Toàn thể thế giới
đang say ngủ trong vô minh. Khi một người nào
đó khám phá ra chân lư, th́ họ không c̣n bị ngủ mê nữa.
Nay tôi đă thức tỉnh, đă khám phá ra chân lư. Bất
cứ ai tỉnh thức như vậy đều
được tôn xưng là Phật”.
Lúc đó, năm đạo sĩ với ḷng kính trọng
vô hạn nói: “Thưa Đức Phật, xin Ngài chỉ dạy
cho chúng tôi những ǵ Ngài đă thực hành để chúng
tôi có thể được thức tỉnh như Ngài”.
Để trả lời câu hỏi của họ, Đức Phật
đă thuyết bài pháp đầu tiên. Bài pháp này gọi là
“Chuyển pháp luân” và “pháp” ấy chính là chân lư mà Ngài đă
khám phá. Ngài nói: “Này các thầy, các thầy phải biết
có bốn sự thật cao quư (Tứ diệu đế).
Thứ nhất là Khổ đế. Đời sống này
đầy dẫy những khổ đau về già, bệnh,
chết và bất hạnh. Sau những lạc thú mà người
ta săn đuổi chỉ c̣n lại những khổ
đau mà thôi. Ngay cả khi họ t́m kiếm một vài sự
hài ḷng nào đó, rồi họ cũng sẽ chán nản với
nó. Chẳng khi nào có sự thỏa măn và an lạc thật
sự.
Thứ hai là Tập đế (nguyên nhân gây ra đau khổ).
Khi tâm trí chúng ta đầy những tham lam và dục vọng,
sẽ dẫn đến tất cả những khổ
đau. Thí dụ, nếu một người giàu có tham
đắm gia sản của ḿnh, th́ tính keo kiệt của
anh ta sẽ đem đến cho anh ta nhiều nỗi khổ.
Thứ ba là Diệt đế (sự chấm dứt khổ
đau). Khi chúng ta tẩy trừ tất cả những
tham lam và dục vọng ra khỏi tâm trí của chúng ta th́
những khổ đau sẽ chấm dứt. Chúng ta sẽ
tận hưởng sự an lạc và hạnh phúc mà không
ngôn từ nào có thể tả được.
Thứ tư là Đạo đế. Con đường dẫn
đến chấm dứt tất cả khổ đau. Nếu
chúng ta tránh làm hại sự sống của kẻ khác, nếu
chúng ta tập trung được ư chí của ḿnh và nếu
chúng ta đạt được trí tuệ, th́ mỗi
người chúng ta đều có thể tận hưởng
hạnh phúc trọn vẹn, chấm dứt được
tất cả khổ đau.
Khi họ nghe Đức Phật giảng dạy về Pháp Tứ
diệu đế này, năm đạo sĩ cảm thấy
hạnh phúc như người t́m thấy kho báu vàng bạc.
Họ nói: “Thưa Đức Phật, Ngài quả thật
đă t́m ra chân lư. Xin Ngài hăy dạy chúng tôi con đường
đạt được trí tuệ và hạnh phúc chân thật,
chúng tôi xin nguyện sẽ làm đệ tử của
Ngài”.
Lúc Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên này, rất
nhiều chư thiên đến nghe và bay đến cuối
địa cầu ca ngợi: “Đức Phật bắt
đầu thuyết pháp độ sinh. Cả thế giới
đều đón mừng”.
22. Nỗi buồn của người mẹ
Đức Phật thuyết pháp rất nhiều cách. Đối
với người b́nh thường hay những đứa
trẻ, Ngài giảng dạy bằng những câu chuyện
dễ hiểu. Đối với những người có kiến
thức cao, Ngài giảng dạy phân tích tỉ mỉ về
các phương pháp tu tập. Đối với một số
người Ngài giảng dạy bằng cách im lặng.
Nhưng có lẽ lời dạy có năng lực nhất
của Ngài chính là sự gương mẫu được
thể hiện qua bản thân bằng cuộc sống của
Ngài. Ngài luôn luôn hành động với sự tử tế
và ḷng bao dung. Ngài kiên nhẫn đối với mọi
người, ngay cả đối với những người
ngu dốt nhất.
Không bao lâu Đức Phật được mọi người
kính trọng và họ trở thành đệ tử của
Ngài. Nếu một người nào đó có vấn đề
ǵ, họ sẽ t́m đến Đức Phật để
nhờ Ngài giúp đỡ. Có một người đàn bà
tên là Gotami, con trai của bà vừa mới chết, bà
đi khắp mọi nơi t́m người cứu sống
con bà. Bạn bè của bà thấy vậy động ḷng
thương chỉ dẫn cho bà: “Gotami, chị hăy đi
đến gặp Đức Phật. Có lẽ Ngài sẽ giúp
được chị việc này”.
Bà t́m đến chỗ Đức Phật với đứa
con ẵm trên tay. Bà khóc than: “Kính thưa Đức Phật,
xin Ngài làm ơn cứu sống đứa con tôi”. Đức
Phật trả lời một cách từ mẫn: “Tôi có thể
cứu sống được con bà, bà Gotami ạ.
Nhưng trước tiên bà phải đem cho tôi một thứ
này. Hiện tại tôi cần hạt giống của cây
Mù tạc để làm thuốc. Tuy nhiên nó phải
được lấy từ một nhà chưa từng có
người chết”.
Gotami nghe xong liền cáo từ Đức Phật đi t́m hạt
giống cây Mù tạc. Bà đến một nhà nọ và hỏi
người chủ nhà ở đó, cô ta trả lời: “Dĩ
nhiên bà có thể có được hạt giống cây Mù tạc.
Bà có thể có bất cứ thứ ǵ bà muốn ... Song bà
nên biết rằng chồng tôi đă chết năm ngoái”.
Gotami thốt lên: “Ô, thế là không được! Ta phải
đi t́m nơi khác”. Và bà đi vội qua nhà bên cạnh.
Thế nhưng, nơi nào bà đến họ cũng trả
lời tương tự. Ai cũng muốn giúp bà ta cả,
song gia đ́nh nào bà ta đến cũng có người chết.
Một người nói với bà: “Tôi đă mất đứa
con gái cách đây 3 năm”. Người khác th́ nói: “Anh trai
tôi mới chết ngày hôm qua tại đây”.
Chiều ngày hôm đó bà trở lại chỗ Đức Phật.
Ngài hỏi: “Bà đă kiếm được hạt giống
cây Mù tạc chưa? Đứa con trai của bà đâu, sao
không đem nó theo?”
Bà trả lời: “Kính thưa Đức Phật, hôm nay tôi
đă khám phá ra rằng không chỉ có một ḿnh tôi mất
người con yêu quư, mà nơi nào tôi đến, gia
đ́nh họ cũng có người chết cả. Tôi thật
là ngu dại khi nghĩ đến việc cứu sống
con trai của ḿnh. Tôi đă chấp nhận cái chết của
nó và tôi đă hỏa thiêu nó trưa nay rồi. Bây giờ
tôi đến đây xin được nghe những lời
chỉ dạy của Ngài. Tôi rất mong được lắng
nghe”.
Lúc đó, Đức Phật nói: “Gotami, hôm nay bà đă học
được rất nhiều. Chết sẽ phải
đến với tất cả mọi người dù sớm
hay muộn. Song nếu bà học và hiểu được
sự thật này bà sẽ sống và chết trong an lạc”.
Rồi Đức Phật giảng dạy thêm cho bà. Sau khi
nghe và thực hành lời Phật dạy, bà đă t́m
được sự an lạc và hạnh phúc thật sự.
Một thứ hạnh phúc mà trước đây chưa
khi nào bà có được.
23. Người đàn ông thô lỗ
Một hôm, Đức Phật đang đi bộ ngang qua một
ngôi làng. Có một người đàn ông trẻ tuổi
thô lỗ nh́n thấy Ngài tỏ vẻ giận dữ và sỉ
nhục. Ông la lên: “Ông biết cái ǵ mà dạy người
khác. Ông cũng ngu dốt như mọi người chứ
có ǵ khác đâu. Chẳng qua ông chỉ khéo giả dối lừa
gạt người ta mà thôi”.
Đức Phật vẫn thản nhiên trước những
lời nhục mạ của gă đàn ông này. Ngài từ tốn
hỏi lại ông ta: “Nếu ông đem tặng một món
quà cho người khác, người ta không nhận th́ món
quà đó thuộc về ai?”.
Người đàn ông rất ngạc nhiên khi phải trả
lời một câu hỏi kỳ lạ. Ông nói: “Tất
nhiên nó sẽ thuộc về tôi. V́ đó là món quà của
tôi”.
Đức Phật mỉm cười và nói: “Rất đúng
đấy, ông bạn ạ. Nó cũng giống như việc
giận dữ của ông khi năy. Nếu ông sân hận nhục
mạ tôi, tôi không nhận th́ những lời nhục mạ
ấy thuộc về ông. Khi ấy, chính ông là người
bất hạnh chứ không phải tôi. Tất cả những
hành động xấu mà ông gây ra sẽ trở lại làm
tổn hại lấy bản thân ḿnh.
Nếu ông muốn chấm dứt những bất hạnh
nơi thân, ông phải từ bỏ sự sân hận và trải
rộng t́nh thương đối với mọi người.
Khi ông thù ghét người khác, chính bản thân ông trở
thành bất hạnh. Nhưng khi ông thương yêu mọi
người th́ hạnh phúc sẽ đến cả
đôi bên”.
Người đàn ông trẻ tuổi lắng nghe cặn
kẽ những lời dạy quư báu của Đức Phật,
ông nói: “Bây giờ con đă hiểu. Xin Ngài hăy dạy con
cách thức thực hiện t́nh thương. Con xin
được trở thành đệ tử của Ngài”.
Đức Phật trả lời: “Rất tốt. Ta sẽ
chỉ dạy cho bất cứ ai thật sự muốn
nghe”.
|
24. Những lời khen
Chẳng bao lâu sau khi thành đạo, Đức Phật
đă có một số lượng lớn đệ tử
đi theo Ngài từ nơi này đến nơi khác. Một
hôm, có một đệ tử đến chỗ Đức
Phật và thưa: “Bạch Đức Thế Tôn, Ngài thật
sự là một bậc thầy vĩ đại nhất
từ trước đến giờ”.
Đức Phật không thích được tôn vinh bằng
những lời khen ngợi ấy. Ngài hỏi: “Ông
đă gặp tất cả những vị thầy vĩ
đại nhất xuất hiện nơi thế gian này
chưa?”.
– Bạch Đức Thế Tôn, chưa.
– Và ông có biết tất cả những vị thầy
đang sống và sẽ sinh ra trong tương lai không?
– Bạch Đức Thế Tôn, không.
– Thật là dại khờ khi nói rằng ta là vị thầy
vĩ đại nhất trong tất cả các vị thầy,
trong khi ông không biết điều đó chính xác hay không.
Người đệ tử trả lời: “Nhưng
con chỉ muốn ca ngợi Ngài, bởi v́ những lời
Ngài chỉ dạy rất đúng và đem lại lợi
ích an lạc cho mọi người”.
– Nếu ông nhận thấy những lời dạy của
ta có ích, điều tốt nhất là ông nên thực hành
chúng. Đừng nên phí sức khen ngợi ta. Lư do duy nhất
mà ta xuất hiện nơi cuộc đời này là
hướng dẫn mọi người con đường
thoát khổ. Nếu ông muốn ta hài ḷng th́ hăy thực
hành theo những lời dạy của ta tốt hơn
là ca ngợi ta.
Vào một lần khác, Đức Phật hỏi một
người đệ tử: “Nếu ông mua một số
vàng quư giá, có khi nào ông trả tiền liền mà không chịu
thử trước không?”.
– “Thưa Đức Thế Tôn, dĩ nhiên là không. Có thể
nó là đồ giả và lúc đó con sẽ mất tiêu số
tiền đă mua nó”.
Đức Phật nói: “Rất đúng. Việc đó cũng
giống như phương pháp mà ta đă chỉ dạy.
Ông sẽ không bao giờ chấp nhận những ǵ mà ta
nói về chân lư một cách đơn giản, bởi v́
nó là lời dạy của ta. Tốt hơn hết, ông
nên thử thực hành những lời dạy bằng
chính bản thân ḿnh xem chúng là đúng hay sai. Nếu ông thấy
là đúng và có ích th́ nên thực hành theo. Không nên chỉ v́
kính trọng mà tin theo lời dạy của ta.
Cũng thế, đừng nên phê phán những lời dạy
của người khác và nói họ là người không tốt.
Có rất nhiều vị thầy cao cả khác ở trên
thế gian này và họ có phương pháp riêng của họ
để chỉ dạy mọi người. Đừng
nên xúc phạm đến phẩm giá của họ. Đây
không phải là nhiệm vụ của ông. Nhiệm vụ
của ông là t́m cho ra hạnh phúc và giúp cho người
khác có được hạnh phúc như ḿnh”.
Rồi Đức Phật chỉ dạy thêm cho các đệ
tử hăy cố gắng làm trong sạch ư nghĩ của
ḿnh, có ḷng từ đối với kẻ khác và kính trọng
mọi người.
|
|
|
25. Yêu thương loài vật
Một hôm, theo thường lệ tại Ấn Độ,
người ta giết súc vật để làm vật hy
sinh hay hiến cúng đến những vị thần của
họ. Họ cho rằng dâng cúng như vậy để
cho các vị thần vui ḷng, rồi những vị thần
ấy sẽ ban cho họ những thứ mà họ cầu
xin, như giàu có và mùa màng tươi tốt.
Nơi nào Đức Phật đi qua, Ngài cũng nói với người
ta rằng, việc giết hại súc vật để tế
lễ như vậy là sai. Một số người nghe
Ngài nói bèn tức giận trả lời: “Sách Thánh của
chúng tôi dạy phải giết súc vật để hiến
cúng các vị thần. Tại sao Ngài lại dám nói ngược
lại?”.
Đức Phật ôn tồn đáp: “Thật là không đúng
khi ḿnh làm cho kẻ khác bất hạnh để ḿnh
được hạnh phúc. Ai cũng ham muốn
được sống như các ông. V́ thế, nếu các
ông giết súc vật để tế lễ, các ông chỉ
là người ích kỷ mà thôi. Và tôi cũng đă lặp
đi lặp lại nhiều lần rằng người
ích kỷ khó có thể t́m thấy hạnh phúc nơi cuộc
đời này.
Cũng thế, bất cứ vị thần nào đ̣i hỏi
được hiến máu súc vật trước rồi
mới đến giúp đỡ mọi người th́
không phải là những vị thần tốt. Những vị
thần như thế không xứng đáng để
được mọi người lễ bái. Song, nếu
các ông hành động bằng t́nh thương và sự tử
tế đối với mọi người, xem súc vật
và loài người b́nh đẳng th́ chính những vị
thần ấy sẽ lễ bái các ông”.
Mọi người nghe được những lời dạy
đầy trí tuệ của Đức Phật và nhận thấy
rất đúng. Họ liền bỏ tục lệ giết
súc vật để tế lễ. Nhờ vậy mà những
con vật sắp sửa bị hy sinh làm vật tế lễ
được thoát chết.
26. Sức mạnh của t́nh thương
Đức Phật không quên lời hứa với vua Tần
Bà Sa La là sẽ trở lại thuyết pháp cho ông. Khi nhân
duyên đă đủ, Ngài hành đạo đến
Vương Xá. Bên ngoài thành phố huy hoàng này có một ngọn
đồi gọi là Vulture, Đức Phật và các đệ
tử của Ngài đă đến và ở trong những
hang động tại đây.
Vua Tần Bà Sa La thường đi đến mỏm
Vulture để nghe Đức Phật thuyết pháp. Những
người ở thành phố cũng đến nghe pháp.
Chẳng bao lâu, số người xin quy y Phật ngày càng
đông. Một thời gian sau, vua và một số người
giàu khác đă dâng cúng cho Đức Phật và những đệ
tử của Ngài những khu vườn, để mọi
người có thể đến đó lắng nghe Đức
Phật thuyết pháp một cách thoải mái.
Người em họ của Phật là Đề Bà Đạt Đa
trở nên ghen tị với Phật. Ông ta nghĩ: “Phật
được rất nhiều người theo làm đệ
tử và mọi người đều biểu lộ
ḷng kính trọng đến Ngài. Ta với Phật cũng
cao quư như nhau, nhưng họ lại phớt lờ với
ta. Ta phải t́m cách phá Ngài”.
Ông ta nghĩ cần phải nhờ sự giúp đỡ của
người khác để giết Phật mới
được. V́ thế, ông đă t́m đến con trai của
vua Tần Bà Sa La: “Bộ thái tử không muốn làm vua à?
Thái tử không thấy cha của thái tử có tất cả
của cải và quyền lực đấy sao? Nếu
thái tử giúp tôi giết Đức Phật th́ tôi sẽ giúp
thái tử giết vua cha. Lúc đó, thái tử sẽ trở
thành một ông vua trong hoàng cung này, tha hồ mà hưởng
sung sướng”.
Thái tử đă nghe theo những lời xúi giục độc
ác của Đề Bà Đạt Đa. Hai người đă t́m mọi
cách để ám sát đức Phật. Một hôm, Đức
Phật đang ngồi thiền gần mỏm Vulture, họ
lăn một tảng đá lớn từ trên đồi
xuống chỗ Ngài. Nhưng may thay, tảng đá lăn
xuống bị vỡ làm đôi văng ra hai bên, nhờ vậy
Đức Phật không bị tổn hại.
Một lần khác, Đức Phật đang đi ngang qua
thành phố với các đệ tử của Ngài. Hai
người biết Phật sẽ đi qua và đă chuẩn
bị kế hoạch. Họ mua một con voi và cho nó uống
rượu thật say. Khi nó đă uống say rồi, họ
dùng cây đánh nó cho đến lúc nó giận điên lên. Họ
thả nó ra ngay khi Đức Phật đi ngang qua, hy vọng
con voi say sẽ giẫm chết Đức Phật.
Khi các đệ tử thấy con voi điên tấn công, họ
sợ quá bỏ chạy tứ tung, chỉ c̣n có A Nan
(Ananda), người hầu cận Đức Phật, ở
lại bên cạnh thầy, ông sợ quá nắm y Đức
Phật.
Đức Phật nh́n thấy con voi đang chạy đến,
thay v́ hoảng sợ, Ngài lại rải ḷng từ đến
con vật đáng thương. Dù con voi đang say và
điên cuồng, nó cũng cảm nhận được
sức mạnh t́nh thương của Đức Phật. Nó
ngưng hung hăng tấn công và đi đến chỗ
Đức Phật một cách hiền từ, cúi đầu
xuống chân của Đức Phật.
Đức Phật vuốt nhẹ lên đầu con voi và quay
qua nói với A Nan: “Phương pháp hay nhất để
phá tan hận thù là t́nh thương. Hận thù không thể
tiêu diệt được hận thù. Đây là một bài học
rất quan trọng cần phải nhớ”.
27. Trở về quê hương
Một hôm, Đức Phật nói với các đệ tử
của Ngài rằng: “Đă đến lúc ta phải trở về
Ca Tỳ La Vệ, thăm lại thành phố và người
thân của ta”. Sau đó, Đức Phật và các đệ tử
đă đi bộ về thăm quê hương của
Ngài. Tin Đức Phật sắp trở về lan truyền
khắp thành phố. Mọi người rất nôn nóng và
sung sướng chờ đợi. Họ reo lên khi nghe tin
này: “Ôi! Lâu lắm rồi, thái tử yêu quư của chúng ta mới
trở về. Bây giờ Ngài đă là một vị thầy
cao quư với hàng ngàn đệ tử tùy tùng. Thật là
sung sướng làm sao khi gặp lại Ngài”.
Vua Tịnh Phạn rất vui mừng khi nghe tin con trai của
ḿnh sắp trở về. Vua được biết Đức
Phật có rất nhiều đệ tử và lấy làm tự
hào: “Con trai của ta đă trở thành bậc thầy
hướng đạo cao quư của tất cả. Phật
đă đem lại vinh dự lớn cho ḍng họ ta”.
Vua nôn nóng muốn biết tin Đức Phật, bèn sai một
người hầu cưỡi ngựa đi ḍ la trước,
xem con trai của ông sau nhiều năm xa cách nay như thế
nào. Sáng hôm sau, người hầu đă t́m đến
nơi Đức Phật và các đệ tử của Ngài
đang ở. Lúc ấy, Đức Phật và các đệ tử
mỗi người ôm một b́nh bát. Họ đi từ
nhà này đến nhà khác trong làng để xin thức
ăn. Sau đó, họ trở về nơi ở và cùng
nhau dùng bữa ăn đơn giản trong sự im lặng.
Người hầu trở về Ca Tỳ La Vệ và
tường thuật lại tất cả những ǵ ḿnh
thấy cho vua nghe. Nghe xong, vua rất giận. Ông la lên:
“Ôi, con trai của ta, một hoàng tử cao quư lại trở
thành một kẻ ăn xin. Thật là nhục nhă làm sao!
Ta phải chặn đứng việc này ngay tức khắc”.
Vua liền cưỡi ngựa ra khỏi hoàng cung và đi
thẳng đến nơi con trai ḿnh đang ở. Khi vua
nh́n thấy Tất Đạt Đa, bây giờ là một vị
Phật rạng rỡ với rất nhiều đệ
tử vây quanh, ông rất cảm động. Sau khi hỏi
thăm sức khỏe, vua liền hỏi Phật: “Cha
nghe nói con đi xin thức ăn vào mỗi buổi sáng,
điều đó có đúng không?”.
Đức Phật trả lời: “Dạ thưa cha, đúng.
Đó là tục lệ của chúng con”.
Vua nghe nói càng trở nên tức giận hơn trước.
Ông quát: “Tục lệ của chúng ta à! Con sinh ra trong ḍng họ
vua chúa, có bao giờ phải đi xin một thứ ǵ
để sống đâu. Tục lệ của chúng ta là
ăn bằng chén vàng, chén bạc chứ không phải
ăn bằng bát gỗ, bát sành. Con hăy nói cho cha biết tục
lệ của chúng ta là ǵ?”.
Đức Phật lễ phép trả lời: “Dạ thưa
cha, cha thuộc ḍng dơi vua chúa. Đây là sự thật. Thế
nhưng, hiện nay con thuộc ḍng dơi đạo sư,
ḍng dơi của những vị Phật trong quá khứ. Những
bậc thầy này luôn luôn tự hạ thấp ḿnh. Họ
nhận thức ăn của mọi người. Cho nên
con nói tục lệ xin ăn của chúng con có nghĩa là tục
lệ của các Đức Phật”.
Rồi Đức Phật nắm tay cha thân mật, vừa
đi vừa tâm sự với cha. Phật giảng cho vua
nghe về những chân lư cao quư và con đường dẫn
đến chấm dứt tất cả khổ đau.
Sau khi nghe Phật nói pháp, vua rất hoan hỷ và khen ngợi:
“Quả thật con đă tiến xa hơn trước nhiều.
Khi con c̣n bé, đạo sĩ A Tư Đà đă tiên đoán rằng
sau này con sẽ trở thành một vị thầy cao quư.
Cha đă phải cúi đầu trước con, ồ quên,
Đức Phật. Bây giờ Phật hăy nhận cha là đệ
tử”.
Chẳng bao lâu, Da Du Đà La, vợ của Ngài, La Hầu La,
con trai của Ngài, cùng họ hàng và những người
trong hoàng cung cũng xin làm đệ tử của Ngài. Họ
nói với Đức Phật: “Chúng tôi rất bất hạnh
khi Ngài từ bỏ chúng tôi đi t́m đạo mấy
năm qua. Nhưng bây giờ Ngài đă trở về, mang
đến cho chúng tôi rất nhiều hạnh phúc và an lạc
của tâm hồn bằng những lời dạy cao quư về
chân lư. Sự ra đi của Ngài thật xứng đáng
và vinh quang cho ngày trở lại, đó chính là sự giác ngộ,
là một vị Phật”.
28. Vua và thần cây
Từ năm 35 tuổi, Đức Phật đă thuyết
pháp cho mọi người nghe. Gần 45 năm, Ngài đă
đi khắp nước Ấn Độ hoằng pháp,
đem lại niềm an lạc hạnh phúc cho rất nhiều
người. Khi Ngài giảng dạy cho người nào
đó về ḷng từ bi, Ngài kể cho họ những mẩu
chuyện dễ gây ấn tượng cho họ. Đây là một
trong những mẩu chuyện mà Ngài đă kể:
Thuở xưa, có một ông vua rất kiêu hănh. Ông muốn
xây một cung điện thật lớn cho ḿnh. Một
hôm, ông gọi các quan lại và nói: “Hăy đi vào những
khu rừng và t́m cho ta một cây cao lớn nhất. Cây
đó, ta sẽ dùng vào việc xây dựng cung điện
của ta”.
Các quan vâng lệnh, đi sâu vào trong rừng và đă t́m thấy
một cây theo như ư của vua. Nó to lớn và đứng
sừng sững giữa những đám cây. Đêm đó, họ
trở về và tường thuật lại cho vua nghe:
“Tâu bệ hạ, chúng tôi đă t́m ra được một
thân cây cao lớn theo như ư ngài muốn. Ngày mai, chúng tôi sẽ
trở lại khu rừng đó và đốn hạ nó”.
Vua nghe xong, lấy làm hài ḷng và đi ngủ. Đêm hôm đó,
vua mơ thấy một giấc mơ lạ. Vua mơ thấy
một vị thần sống trong thân cây cao lớn
đó. Vị thần ấy xuất hiện trước
vua và nói: “Tâu bệ hạ, xin ngài đừng chặt
đứt nơi ở của tôi. Nếu ngài hạ thân
cây, th́ mỗi vết cắt sẽ làm tôi đau đớn
và tôi sẽ chết mất”.
Nhưng vua trả lời: “Ông là cây tốt nhất trong số
tất cả các cây. Tôi cần phải dùng nó để
xây cất cung điện của tôi”.
Vị thần cố thuyết phục, nhưng vua th́ rất
ngoan cố và nhất định sẽ chặt thân cây ấy.
Cuối cùng, vị thần cây nói với vua rằng: “Thôi
được, ngài cứ việc chặt nó. Thế
nhưng ngài hăy chặt như sau: Xin ngài đừng chặt
sát gốc như người ta vẫn thường làm.
Ngài hăy sai người leo lên ngọn của cây và cắt từng
khúc một. Cắt cho đến khi nào hết thân cây th́
thôi”.
Vua rất lấy làm ngạc nhiên và nói: “Nếu tôi sai
người làm như lời ông nói và cắt thân cây nhiều
lần như vậy, nó sẽ làm cho ông đau đớn
nhiều hơn là cắt chỉ một lần ở
dưới gốc cây”.
Vị thần đáp: “Vâng, bệ hạ nói rất
đúng. Song nếu ngài làm theo lời đề nghị của
tôi th́ sẽ tốt hơn cho các sinh vật khác trong rừng.
Ngài biết đấy, cây của tôi th́ rất cao lớn.
Nếu nó đổ xuống sẽ chiếm một khoảng
rộng, những cây nhỏ hơn sẽ bị đè bẹp
và sẽ giết chết những súc vật nhỏ. Những
con chim và thú sẽ mất chỗ ở của chúng và nhiều
cây nhỏ sẽ bị tàn phá. Nhưng nếu ngài cắt
từng đoạn một, nó sẽ không làm tổn hại
nhiều loài vật khác”.
Ngay lúc ấy, vua giật ḿnh tỉnh giấc. Vua nghĩ:
“Vị thần này sẵn sàng chịu đau đớn cắt
làm nhiều khúc để cho những súc vật bé nhỏ
trong rừng không bị khổ đau. Ôi, thật là dũng
cảm và tử tế làm sao! Và thật là ích kỷ làm
sao, khi ta lại muốn hạ thân cây ấy để thỏa
măn dục vọng và sự kiêu hănh của ta! Thay v́ cắt
hạ nó, bây giờ ta sẽ tôn vinh nó. Giấc mơ này
đă dạy ta phải biết thương yêu và tử tế
đối với mọi người”.
Ngày hôm sau, vua đi vào trong rừng và trang hoàng cho cây ấy.
Từ đó về sau, vua trở thành một vị vua
nhân từ được nhân dân hết sức
thương yêu.
29. T́nh thương không ranh giới
Một hôm, Đề Bà Đạt Đa lâm bệnh. Nhiều thầy
thuốc đă đến chữa trị nhưng không khỏi.
Lúc đó anh họ của ông – Đức Phật – đă
đến thăm ông.
Một trong những đệ tử của Phật hỏi:
“Bạch Đức Thế Tôn, tại sao Ngài lại cứu
giúp Đề Bà Đạt Đa? Chính ông ta đă nhiều lần
mưu hại Ngài. Ông ta thật tâm muốn giết Ngài
mà”.
Đức Phật trả lời: “Không có lư do ǵ để
thân thiện với người này và thù địch với
kẻ khác. Tất cả mọi người đều
b́nh đẳng như nhau, v́ ai cũng đều muốn
hưởng hạnh phúc an lạc và không ai thích bệnh tật
khổ đau. Do đó chúng ta phải đối xử với
mọi người bằng t́nh thương không phân biệt”.
Rồi Đức Phật đi đến bên giường của
Đề Bà Đạt Đa và nói: “Nếu thật sự ta yêu
thương Đề Bà Đạt Đa, người đă luôn cố
gắng hăm hại ta, như là thương yêu La Hầu
La, con trai độc nhất của ta, th́ cho Đề Bà Đạt
Đa được mau lành bệnh”. Ngay lúc ấy, Đề Bà
Đạt Đa cảm thấy sức khỏe b́nh phục trở
lại.
Đức Phật quay qua các đệ tử và nói: “Hăy nhớ
rằng, t́nh thương của một vị Phật
luôn b́nh đẳng đối với tất cả chúng
sinh”.
30. Những ngày cuối cùng
Khi Đức Phật 80 tuổi, Ngài tự nghĩ: “Ta đă
làm tất cả những ǵ ta có thể làm để giúp
cho mọi người. Ta đă hướng dẫn họ
làm thế nào để sống với t́nh thương và
tránh làm hại sự sống của kẻ khác. Bây giờ,
đă đến lúc ta sẽ từ bỏ thân xác này một
cách an lạc”.
Lúc đó, Đức Phật gọi A Nan: “Đă đến lúc
chúng ta trở về Ca Tỳ La Vệ một lần cuối.
Ta muốn viên tịch tại thành phố nơi ta đă
trưởng thành”.
A Nan nghe xong hết sức đau buồn, ông thưa: “Bạch
Đức Thế Tôn, xin Ngài đừng ĺa bỏ chúng con. Đă
nhiều năm qua, Ngài là thầy dẫn đường
của chúng con. Chúng con biết sẽ làm ǵ đây khi thầy
vắng bóng?”. Nói xong, ông sụt sùi khóc.
Phật an ủi: “Đừng khóc nữa, A Nan thân yêu của
ta. Ta luôn luôn dạy rằng, chết là điều tất
nhiên của sự sống, không có ǵ phải lo sợ cả,
con phải hiểu rơ điều đó. Khi ta viên tịch
rồi, hăy lấy những lời dạy của ta làm thầy
dẫn đường. Nếu con khắc ghi những lời
dạy này trong trái tim của con, con sẽ không cần
đến ta nữa. Bây giờ chúng ta hăy lên đường
trở về Ca Tỳ La Vệ”.
Đức Phật và các đệ tử lên đường
đi về hướng Bắc. Họ đi ngang qua những
ngôi làng ở Câu Thi Na (Kushinagar) cách Ca Tỳ La Vệ không
xa. Đức Phật nói với các đệ tử dừng
lại nơi đây và nghỉ ngơi. Người nói với
A Nan rằng: “Đây là nơi ta sẽ viên tịch”.
Mặc dù đây là những ngày cuối cùng của đời
sống, Đức Phật vẫn không ngừng cứu độ
chúng sinh. Một ông Phạm chí tên Tu Bạt Đà La (Subhaddha)
đă 120 tuổi xin được gặp Phật và Ngài
đă đồng ư. Phật đă lắng nghe những thắc
mắc của ông về việc tu hành và Ngài đă ban cho
ông những lời chỉ dẫn rất chân t́nh. Sau khi
nghe xong, mọi nghi ngờ của ông đều tan biến,
và ông đă t́m được nguồn an lạc hạnh
phúc ngay khi Đức Phật nói pháp xong.
Sau đó, Đức Phật đi vào khu vườn và nằm
giữa hai thân cây Sa la đang nở hoa trắng xóa. Những
đệ tử tụ tập vây quanh Ngài. Một số
người đang sụt sùi khóc, nhưng những
người đă hoàn toàn an lạc giải thoát th́ im lặng.
Đức Phật ban bố những lời dạy cuối
cùng: “Hăy ghi nhớ những ǵ ta đă dạy các con. Tham ái
là nguyên nhân của tất cả bất hạnh. Mọi vật
sớm hay muộn cũng sẽ biến đổi, đừng
nên bám víu vào bất cứ cái ǵ. Tốt hơn hết nên dốc
ḷng thanh lọc tâm trí. Hăy tinh tấn lên để đạt
tới giải thoát”.
Lúc này, Đức Phật xoay ḿnh về bên phải, đầu
đặt lên bàn tay phải. Ngài nhắm mắt lại và
an nhiên viên tịch. Hoa Sa la rụng xuống như mưa.
Sau đó, các đệ tử đặt nhục thân Phật
vào trong quan tài bằng gỗ. Họ chuẩn bị
đem thiêu Ngài theo phong tục Ấn Độ, nhưng họ
không sao mồi lửa cho cháy được. Lúc ấy, vị
đệ tử lớn của Phật là Ca Diếp (Maha
Kassapa) về tới. Khi nghe tin Đức Phật sẽ nhập
Niết bàn, Ca Diếp vội vă đến Câu Thi Na,
nhưng khi ngài về đến nơi th́ Đức Phật
đă tịch rồi. Ca Diếp đến bên kim quan và chắp
tay thành kính đảnh lễ nhục thân của Phật.
Ca Diếp lạy xong th́ lửa bắt đầu đốt
cháy. Lửa tàn, xác thịt đều ra tro, chỉ c̣n lại
những viên xá lợi óng ánh đủ màu sắc.
Vua các nước ở phía Bắc Ấn Độ nghe tin Phật
nhập Niết bàn, sau khi hỏa thiêu có nhiều xá lợi
nên họ muốn thỉnh về thờ. Họ nghĩ:
“Ta sẽ xây một cái tháp để tôn thờ xá lợi
của Phật trong vương quốc của ta. Đây là niềm
vinh hạnh rất lớn cho đất nước của
ta”.
Thế rồi, ông vua nào cũng muốn lấy xá lợi
của Phật nên đă xảy ra sự tranh căi. Ai cũng
muốn giành thắng lợi về phía ḿnh cả. Cuối
cùng, có một người đứng ra phân giải: “Đức
Phật đă trải qua toàn bộ cuộc đời của
Ngài để dạy cho chúng ta biết yêu thương
người khác. Bây giờ Ngài đă viên tịch, các vị
lại đi ngược lời Phật đă dạy. Thật
là không đúng tí nào. Tốt hơn hết, chúng ta nên phân
chia xá lợi cho đồng đều. Rồi sau đó,
các vị sẽ đem về vương quốc của
ḿnh, xây tháp thờ xá lợi của Đức Phật”.
Các vị vua nghe nói có lư và họ không c̣n tranh căi hơn thua
nữa. Họ hoan hỷ cùng nhau phân chia xá lợi Phật
và đem về vương quốc của ḿnh. Nơi
đó, họ xây những bảo tháp để kỷ niệm
một vị thầy cao quư đă sống một đời
tràn đầy t́nh thương và trí tuệ.
31. Những lời dạy vẫn c̣n sống
măi
Đức Phật đă nhập diệt cách đây hơn
2500 năm trong một ngôi làng nhỏ tại Ấn Độ.
Thế nhưng, những lời dạy về t́nh
thương và trí tuệ của Ngài vẫn không bao giờ
mất. Những đệ tử của Ngài đă tiếp
nối Ngài truyền bá cho những người khác. Cứ
thế, các đệ tử nối tiếp truyền bá từ
đời này đến đời khác. Nhờ vậy,
ngày nay chúng ta mới được biết đến
giáo lư cao quư của Đức Phật.
Mọi người trong mọi quốc gia, bất cứ
ai tin tưởng đều có thể học tập những
lời dạy tràn đầy t́nh thương và trí tuệ
của Phật. Nếu chúng ta thực hành đúng những
lời Phật dạy, chúng ta sẽ khắc phục
được những ích kỷ, hận thù và tham dục.
Chúng ta sẽ chế ngự những lo sợ và đạt
được an lạc giải thoát, cũng như Đức
Phật đă đạt được dưới gốc
cây Bồ đề vậy. Đi theo con đường mà Đức
Phật đă chỉ dạy, chúng ta có thể trở thành
một vị Phật, một người hoàn toàn tỉnh
thức. Chúng ta có thể đem lại hạnh phúc cho những
người khác cũng như Đức Phật đă từng
làm vậy.
Cầu mong tất cả chúng sinh đều được
an lạc hạnh phúc trong ánh từ quang của Đức Phật.
Chớ làm các điều ác
Hăy làm các việc lành
Giữ tâm ư trong sạch
Đó là lời Phật dạy.

TK CHÂN TÍNH
Dịch xong ngày 14-6 Mậu Dần
Phụ chú & Mấy lời tâm huyết
Phụ chú
Đại hội Phật giáo Thế giới họp tại
Tokyo (Nhật Bản) năm 1952 đă thống nhất:
1/ Đức Phật Thích Ca đản sinh năm 624 trước
CN - nhập Niết bàn năm 544 trước CN.
2/ Phật lịch (PL) được tính từ năm Đức
Phật nhập Niết bàn: 544 trước CN.
Đến năm 1960, Đại hội Phật giáo Thế giới
họp tại Phnom Penh (Campuchia) thống nhất ngày đản
sinh của Đức Phật là ngày trăng tṛn, tháng Vesakh, là
ngày rằm tháng Tư âm lịch.
Theo Phật giáo Bắc tông: Thái tử Tất Đạt Đa xuất
gia đêm mùng 8-2, Thành đạo ngày 8-12, Đức Phật
nhập Niết bàn ngày 15-2 âm lịch. Thái tử xuất
gia năm 19 tuổi, 5 năm t́m thầy học đạo,
6 năm khổ hạnh rừng già, 49 ngày tự tu thiền
định, thành đạo năm 30 tuổi – 49 năm
hóa độ.
Theo Phật giáo Nam tông: Lấy ngày rằm tháng Tư để
kỷ niệm ba Đại lễ: Đản sinh - Thành đạo
- nhập Niết bàn. Thái t xuất gia năm 29 tuổi,
thành đạo năm 35 tuổi – 45 năm hóa độ.
Mấy lời tâm huyết
Thuyết pháp giảng kinh, viết sách giáo lư nhà Phật hoặc
in kinh sách đem phát cho mọi người xem, để
họ sớm giác ngộ. Được như thế công
đức vô lượng, đó gọi là pháp thí.
Nếu không đủ điều kiện làm những việc
ấy, th́ thỉnh một số kinh sách chịu khó
đem đến từng nhà cho mượn đọc, rồi
sau đó lại lần lượt cho nhà khác mượn
nữa, hoặc đọc cho kẻ khác nghe, nhất là
cho người không biết chữ nghe, cũng được
công đức vô biên, đó cũng gọi là Pháp thí.
Chính Đức Phật đă dạy: “Trong các sự bố
thí chỉ có Pháp thí là công đức lớn nhất, không
có công đức nào sánh bằng”.
Tưởng về lợi cũng như về danh, chúng
ta đừng lo nghĩ vội, mà điều tối cần
là làm sao cho rạng rỡ chánh đạo trước cái
đă. Đó là mục đích chính và thiêng liêng cao cả của
chúng ta. Nền móng đạo pháp cần nhờ sự
chung lưng góp sức của chúng ta. Vậy mỗi
người nên xây đắp vào đó một ít vôi, một
ít nước, hoặc một tảng đá hay một
viên gạch v.v... ngơ hầu cái nền móng ấy được
thêm bền vững và kiên cố đời đời.
Chúng ta không nên quan niệm ở công đức vô lượng
vô biên, mà điều cần thiết là nên nghĩ nhiều
đến những người lầm đường lạc
lối, sống trong ṿng đầy tội lỗi không có
lối thoát, hăy mau cứu vớt họ, cảnh tỉnh
họ để cùng quay về chân lư. Nếu được
như thế chính ta đă làm lợi ích cho Phật pháp vậy.
Với hoài băo cuộc đời, chúng ta hăy “Tất cả
v́ Phật pháp". Hy vọng mấy lời tâm huyết
này được nhiều vị hảo tâm in kinh sách cho
muôn dân xem.
Được như vậy công đức không ǵ sánh bằng!
Tha thiết mong mỏi như thế!
Tặng cho thân nhân một số tiền nhỏ, ḷng ḿnh
không vui.. Nhưng ḿnh không đủ sức tặng nhiều
hơn. Chỉ có một cách là tặng các loại sách tu
hành để xây dựng cho đời sống thanh cao,
th́ dù một quyển sách giá không đáng bao nhiêu, nhưng vẫn
c̣n quư hơn bạc vạn.

Nguyễn bá
bải, đại học sư phạm kỹ thuật
TPHCM, vi điều khiển, tự tử, ḷng tham, thanh thản,
thất t́nh, chăm chỉ, học bổng du học mỹ,
tài liệu, giáo tŕnh bmnhy2003@yahoo
Trở lại
VAGAM
|